Các công trình công ích, thực trạng và giải pháp – P1

Các Cơ sở hạ tầng xã hội là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức sống của nhân dân và tính ưu việt của xã hội. Nhà nước ta đã có sự quan tâm rất lớn trên lĩnh vực này. Nếu trước năm 1975 các quận cận trung tâm đều có rất ít cơ sở hạ tầng xã hội thì nay những huyện ngoại thành xa xôi đều đã có các cơ sở hạ tầng xã hội thiết yếu. Giáo dục và y tế, văn hóa, TDTT là các lĩnh vực được Nhà nước đặc biệt quan tâm.
Tuy nhiên do dân số phát triển quá nhanh, kinh tế còn rất khó khăn, đầu tư cho giáo dục và y tế còn rất hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển, sự chênh lệch giữa cung và cầu đối với các cơ sở hạ tầng xã hội còn quá lớn và có lẽ phải một thời gian khá dài nữa chúng ta mới có thể vươn đến trình độ ngang bằng với các nước phát triển sớm hơn trong khu vực.
Xã hội hóa giáo dục và y tế, văn hóa, TDTT là vấn đề mang tính chiến lược, Nhà nước rất cần có những chính sách hợp lý đế tạo điều kiện cho sự nghiệp xã hội hóa có những bước phát triển nhanh chóng hơn trước.

I. Các cơ sở hạ tầng về Giáo dục và đào tạo
1. Theo số liệu thống kê 1999 thì thành phố Hồ Chí Minh hiện có gần 290.000 trẻ em ở lứa tuổi đi học (từ 3 tuổi đến 19 tuổi, từ mẫu giáo cho đến THPT). Nếu không tính học sinh học mẫu giáo và chỉ có 60% trẻ vào THPT, còn là phổ cập THCS thì con số này là 220.000 người.
Hiện nay hầu hết các trường học đều học 2 ca, và mỗi lớp 50 em thì đã cân đến 2.200 lớp học; còn nếu học một ca và mỗi lớp vào khoảng 30-35 em thì số lớp học là 6.300 đến 7.300 lớp. Bao giờ chúng ta mới có đủ số lượng lớp học đó!
2. Hiện nay hầu hết các trường đều rất thiếu cơ sở thí nghiệm, thực nghiệm. Đó là một trong những lý do khiến cho giáo dục của chúng ta thiên về lý thuyết, yếu về thực hành. Tuy nhiên trang bị đủ cho các trường là vấn đề hết sức khó khăn. Ngoài ra các cơ sở để học ngoại ngữ, vi tính là những môn học có tính thời dại thì số trường có đủ các tiện nghi này chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
3. Thể dục học đường là vấn đề cực kỳ quan trọng. Hiện nay ở các trường học chúng ta đều thiên về dạy trí lực, còn giáo dục về thể lực rất yếu kém. Điều đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, sức trưởng thành của không ít thế hệ trẻ. Sự tổn thất này dường như người ta chưa nhận thấy, chưa quan tâm đầy đủ, thậm chí hiện nay có những trường hợp mà sân trường không đủ chỗ cho học sinh đứng chào cờ.
Ở các nước tiên tiến thể dục là môn học cực kỳ quan trọng, chính vì vậy hầu hết các trường học của họ đều trang bị khá đầy đủ các điều kiện sân bãi, phương tiện và dụng cụ TDTT. Đối với ta, dường như là chuyện quá Xa vời.
4. Ngôi trường thời tuổi trẻ vốn là nơi để lại những ký ức, những kỷ niệm mà nó thường đi theo suốt cả cuộc đời con người. Mái trường, sân trường, cây cổ thụ, vườn hoa cùng với bạn bè, thầy cô giáo, bác gác cổng đều là những gì tốt đẹp nhất để lại trong trí nhớ và tạo nên tâm hồn của tuổi trẻ.
Cảnh quan ngôi trường phải đẹp, phải nên thơ, đừng coi thường, đó là điều rất quan trọng đối với môi trường giáo dục.
5. Cổng trường – hiện nay hầu hết các trường học của thành phố, cổng trường thường tạo nên cảnh chật chội, chen chúc mất trật tự, mỹ quan và thường ảnh hưởng đến giao thông công cộng. Phương tiện xe 2 bánh là một trong những nguyên nhân gây nên cảnh tượng đó, nhưng cổng trường không có một mặt bằng rộng phía trước và việc tổ chức đưa đón học sinh không hợp lý cũng tạo thành nguyên nhân nói trên.
6. Hàng quán xung quanh trường – trẻ con đi học ăn quà cũng là chuyện bình thường xưa nay; nhưng hàng quán quá nhiêu, quá lộn xộn phức tạp đã trở thành vân đề xã hội. Từ chả cá viên, bò bía, kem … cho đến sách vở, băng đĩa lậu, thậm chí cả xì ke ma túy… không thể coi đây là chuyện bình thường được nữa.
7. Do hậu quả của lịch sử và cũng do sự phát triển đô thị không đồng đều ở các khu vực đô thị khác nhau, nên có tình trạng trường học phân bô không đồng đều. Quận 3, Quận 1, Quận 5 tập trung rất nhiều trường học, trong khi các quận ven, quận mới… số trường học chưa tương xứng với dân số, thậm chí Quận 9 niên khóa 2000-2001 mới có ngôi trường THPT dầu tiên. Ngoài ra chất lượng của các trường (bao gồm đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất) khác nhau, tạo nên một số trường học có tên tuổi, thu hút nhiều học sinh hơn.
Việc phân bố trường không đồng đều tạo nên những dòng di chuyển rất lớn trong mỗi ngày, ảnh hưởng đến giao thông dô thị, nhẩt là hầu hết các học sinh đều đi xe đạp, xe máy.
8. Trong những năm gân đây Nhà nước chủ trương xã hội hóa ngành giáo dục. Rất nhiều trường dân lập ra đời và hầu hết đều có cơ sở vật chất rất đơn sơ, rất kém, không đạt tiêu chuẩn của những ngôi trường học. Mặt khác Nhà nước cũng chưa tạo hết những điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa giáo dục, nhất là trên phương diện xây dựng cơ sở vật chất.
Qua những phân tích trên xin nêu luận điểm về vấn đề các cơ sở hạ tâng của ngành giáo dục phổ thông:
Trường học cần có sự phân hố đều trên các địa hàn dân cư, để cho trẻ em ở khu vực nào đi học tại khu vực ấy, giầm bớt thời gian, sức lực trong quá trình đi lại, bảo đảm an toàn hơn cho trẻ em. Ngành giáo dục phải có biện pháp bảo đầm chất lượng giảng dạy cho mỗi trường. Trường cho ra trường, lớp cho ra lớp. Dần dần xây dựng đủ trường lớp học một ca (học 2 buổi) với sĩ sô 30- 35 em/ỉ lớp…
Các cơ sở về thí nghiệm, TDTT khó lòng thực hiện được đầy dủ ở hệ thống trường Ốc cũ, vì vậy nên xây dựng các cơ sở này cho từng cụm trường sử dụng chung theo từng khu vực đô thị. Riêng các trường mới phải xây dựng đầy đủ đúng theo tiêu chuẩn. Phải bảo đảm cảnh quan, môi trường, trật tự, an ninh cho trường học không chí trên biện pháp hành chính mà cả trên mặt tổ chức cơ sở vật chất, như thư viện, căng tin và các dịch vụ khác v.v…
Đối với các trường đại học và chuyên nghiệp cũng có những vấn đ’ê về cơ sở vật chất giống như giáo dục phổ thông. Trường ốc, cơ sở thực hành, thực nghiệm, cơ sở TDTT … đều rất hạn chế. Do vậy cũng cần xây dựng những cơ sở sử dụng chung cho từng cụm các trường đại học và chuyên nghiệp.