Các công trình công ích, thực trạng và giải pháp – P2

Có 2 vấn đề nổi cộm:
– Chõ ở cho sinh viên- thành phố hiện có hơn 30 trường đại học và THCN với hơn 40.000 sinh viên. Trong đó hơn 1/2 không có chỗ ở. Đa phần thuê ở tại bên ngoài với những điều kiện và hoàn cảnh rất phức tạp, dễ tiếp nhận cái xấu và gây nên tệ nạn xã hội. Số lượng ký túc xá chỉ tiếp nhận được một số lượng rất ít.
– Có nên tập trung các trường đại học vào một nơi và vấn đề thành lập Đại học Quốc gia:
Theo Quy hoạch tổng mặt bằng thành phố, khu đại học rộng gần 2.000 ha, trước mắt chỉ mới tập trung được vài ba trường. Nếu theo phương thức này thì đây là một ĐÔ THỊ ĐẠI HỌC với dân số cả trăm ngàn người. Hiện trạng ngoài việc xây dựng một số các cơ sở vật chất về giáo dục đã có hiện tượng phân lô chia đất, cất nhà, hàng quán đủ loại và chắc chắn sẽ có một cái chợ trong khu đại học. Nếu hình thành một khu đại học như vậy thì đây là vân đề quản lý đất đai, quản lý đô thị … chứ không đơn thuần là quản lý giáo dục đào tạo, và việc hình thành một khu đại học rộng lớn như vậy quả là rất khó khăn, không dễ gì thực hiện được trong một thời gian nhất định.
Việc để các trường đại học phân tán, cũng có một số nhược điểm nhất định, nhưng phù hợp với hoàn cảnh thực tế và trình độ quản lý hiện nay kể cả một thời gian dài sau này. Cái cần tập trung hiện nay là chỗ ở sinh viên, các cơ sở về thực hành thực nghiệm và TDTT ở một mức độ nhất định.
Trong điều kiện kinh tê hội nhập hiện nay và một thời gian dài nữa điều kiện để hình thành một khu đại học tập trung còn nhiều khó khăn thì nên tập trung đầu tư xây dựng một sô’ khu ký túc xá sinh viên tập trung (thay vì mỗi trường phải tự lo) và một sô cơ sở tập trung về thực hành, thực nghiệm, TDTT… theo khu vực đô thị hoặc theo một sô’ cụm trường nhất định và được quản lý thống nhất.

II. Các Cơ sở hạ tầng về Y tế – Xã hội
1. Hiện tượng quá tải trong các bệnh viện của thành phố là vấn đề thời sự. Bởi vì số bệnh nhân ngày càng tăng, hàng năm tăng khoảng 15-16%. Đây là con sô” báo động.
– Bệnh viện không chỉ phục vụ cho người thành phố. Theo thống kê chung ở các bệnh viện: 60% bệnh nhân là người nội thành, 10% ngoại thành và 30% là từ các tỉnh đến.
Đa số bệnh nhân không chỉ cần có chỗ khám chữa bệnh mà còn đòi hỏi phải có bác sĩ giỏi, phương tiện chẩn đoán chữa trị tiên tiến hiện đại, trong khi đó bệnh nan y ngày càng nhiều, do vậy lượng bệnh nhân tập trung về các bệnh viện trung ương, thành phố ngày càng lớn, nhất là những bệnh viện chuyên khoa.
– Bệnh viện Ung bướu có 50% bệnh nhân là người tỉnh ngoài, số giường bệnh từ 350 lên 1.000.
Bệnh viện Chân thương chỉnh hình: 850 lượt/ngày. Bệnh viện Nhi Đồng I: 2.000 – 3.000 lượưngày.
– Năm con Rồng có ngày Bệnh viện Hùng Vương có hơn 100 cháu bé ra đời…
Trong khi đó thì các bệnh viện ngoại thành chỉ sử dụng 60 – 70% công suất. Năm 1999 theo số liệu sở Y tế: 22 trung tâm y tế quận huyện chỉ có 140.000 lượt bệnh nhân điều trị nội trú, thì các trung tâm chuyên khoa có 532.000 lượt bệnh nhân tức gấp gần 4 lần.
Ở đây có hai vấn đề cần được đề cập đến:
– Tâm lý người bệnh, muốn tìm đến nơi chữa trị tốt nhất. Tại các bệnh viện trung tâm thường chỉ có hơn 50% số người tái khám, có nghĩa là gần 50% số người kia không nhất thiết phải đến khám tại các trung tâm này.
Thực sự là các bệnh viện trung tâm có nhiều bác sĩ giỏi, có phương tiện tốt và có khi là duy nhất. Chữa xạ trị thì phải đến bệnh viện Ung bướu, mổ mắt bằng tia lade thì phải đến trung tâm mắt và không phải bệnh viện vào cũng có thể trang bị được máy siêu âm hiện đại, máy chụp cắt lớp v.v… Có nhiều bệnh viện đã tổ chức mạng lưới phân tán hay nhiêu hình thức “đón đầu” khác, nhưng không mây thành công.
Do vậy một mặt phải tuyên truyền giáo dục người dân có thói quen đến các trung tâm cơ sở trước mỗi khi mắc bệnh thông thường. Ngay các loại hình nhà hộ sinh cũng phải rất phổ biến… để giảm tải cho các trung tâm chuyên khoa.
Mặt khác phải thây rằng trong điều kiện kinh tế xã hội ngày nay, bác sĩ giỏi chưa nhiều, trang thiết bị còn rất hạn chế thì việc tập trung vào những trung tâm chuyên khoa lớn là rất cần thiết và khai thác có hiệu quả hơn.
Việc mở rộng, nâng cấp các trung tâm chuyên khoa hiện nay tại nội thành là bức xúc, nhưng vẫn chỉ là giải pháp tình thế, chưa đáp ứng được các yêu cầu quá lớn hiện nay.
Đối tượng phục vụ của Y tế thành phô’không phải chỉ là người dân thành phố mà còn là các tỉnh phụ cận và cả khu vực phía Nam. Áp lực sẽ ngày càng lớn. Phải có các trung tâm chuyên khoa như những trường dại học của ngành GDĐT, như những trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ. Do vậy nhất thiết phải xây dựng những trung tâm chuyên khoa lớn, hiện đại và không yêu cầu phải nằm trong khu vực nội thành cũ. Nhà nước phải tập trung đầu tư cho những trung tâm này, hoặc những bệnh viện đa khoa lớn hoàn chỉnh, chứ không đầu tư dàn Ịrải. Quy hoạch TMB thành phố phải chuẩn bị địa điểm và mặt bằng dê sớm xây dựng những trung tâm chuyên khoa lớn.
Việc sớm hình thành những trung tâm chuyên khoa lớn ra bên ngoài nội thành cũ còn có ý nghĩa làm giảm bớt áp lực giao thông và áp lực về dịch vụ xã hội đối với nội thành cũ, nhất là đối với khu trung tâm thành phố.
2. Đặc điểm của người Việt Nam là khi trong nhà có người đau ốm thì cả gia đình đều rất quan tâm, mặt khác các bệnh viện của chúng ta chưa có điều kiện tốt hơn để chăm sóc người bệnh. Do vậy cứ một người bệnh thì có 1-2 người chăm sóc (hiện nay có cả dịch vụ nuôi người bệnh). Các bệnh viện đã quá tải về bệnh nhân càng quá tải nhiều lần hơn về sô người đến bệnh viện. Hiện tượng ăn ngủ vật vã ở hành lang, sảnh trống; hiện tượng các loại hình dịch vụ trước cổng bệnh viện hình thành một xã hội nhỏ khá hỗn loạn bên trong, bên ngoài và xung quanh bệnh viện.
Vì vậy khi xây dựng một bệnh viện mới hoặc chỉnh trang cải tạo một bệnh viện cũ phải tính đến những yếu tố xã hội có liên quan để sắp xếp tổ chức hoặc xây dựng các cơ sở dịch vụ phù hợp, có quản lý chặt chẽ trên cơ sở phối hựp với chính quyền địa phương nhằm bảo đảm trật tự, an ninh, vệ sinh môi trường cho bệnh viện.
3. Xã hội hoá các cơ sở khám chữa bệnh đã được thực hiện khá rộng rãi với nhiều quy mô khác nhau và cũng có hiệu quả nhất định. Tuy nhiên tốt có, xấu có, thật có, dổm có, về mặt chuyên môn cơ quan quản lý y tế cần có sự kiểm tra thường xuyên và chặt chẽ hơn. Nhưng về mặt kiến trúc, quy hoạch nếu những phòng khám có hàng trăm bệnh nhân đến khám bệnh xét nghiệm hàng ngày, như phòng khám Hòa Hảo, CM8 v.v và những cơ sở điều trị có 20-30 giường bệnh trở lên thì đều phải được xem xét về kiến trúc – quy hoạch theo đúng quy chuẩn xây dựng. Hiện đã có những phòng khám và điều trị gây ra cảnh tượng kẹt xe, ô nhiễm về rác và nước thải ảnh hưởng đến trật tự an ninh và môi trường đô thị.