Các công trình công ích, thực trạng và giải pháp – P4

3. Bảo tàng và phòng trưng bày
Tất cả những thành phô” lớn trên thế giới, những thành phô” có tính văn hóa cao đều có cả một hệ thông nhà bảo tàng và trưng bày.
Ngoài những nhà bảo tàng có tính chính trị lịch sử như Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng cách mạng, Bảo tàng chứng tích chiên tranh … còn có rất nhiều dạng bảo tàng khác về khảo cổ, về nghệ thuật, về tự nhiên… rất phong phú đa dạng. Ngoài ra phòng trưng bày các loại hình sưu tầm, nhà lưu niệm các danh nhân v.v… đều là những địa chỉ văn hóa của thành phố. Các Công trình này làm phong phú thêm cho đời sông văn hóa của người dân thành phố, là những giảng đường sinh động cho học sinh sinh viên đồng thời là những nơi thu hút khách du lịch.
Phòng trưng bày – thông thường có quy mô nhỏ cũng là một nhu cầu rất thiết yếu không những trên lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật mà cả trên lĩnh vực dịch vụ thương mại, như các phòng trưng bày tranh, ảnh, gốm sứ, đồ trang sức, đồ mỹ nghệ, hàng trang trí nội thất, đồ gia dụng, cho đến cả xe máy, ô tô v.v… Vừa làm nhiệm vụ trưng bày giới thiệu, quảng cáo, tiếp thị… vừa đề cao được tính chất văn hóa của một thành phố.
Bảo tàng và phòng trưng bày, có thể coi như một trong những tiêu chí văn hóa rất quan trọng của một thành phố. Nhà nước cân hết sức quan tâm, tạo điều kiện và có quy chế tổ chức để phát huy hết mọi khả năng của Nhà nước cũng như của nhân dân trên lĩnh vực hết sức phong phú này.

4. Công viên
Chưa có một thành phô” lớn nào trên thế giới mà tỷ lệ công viên cây xanh ít như thành phố Hồ Chí Minh – chỉ 2m2/ng tại khu nội thành cũ. Sau ngày giải phóng đã có nhiều công viên mới mọc lên như Lê Văn Tám, Lê Thị Riêng, Kỳ Hòa, Đầm Sen … Tuy nhiên hầu hết các công viên đều có xu thế kinh doanh thêm phần vui chơi giải trí và dịch vụ ăn uống làm mất hết tính chất công viên thuần tuý. Công viên Tao Đàn thường xuyên được tổ chức Hội chợ triển lãm.
Trên thế giới người ta phân biệt rõ 2 loại hình: công viên và khu vui chơi giải trí khác nhau.
Công viên là khu vực yên tĩnh chỉ có vườn hoa, thảm cỏ, hồ nước, rừng cây và một vài giống chim thú đẹp. Mục đích của công viên là tạo môi trường trong lành yên tĩnh để cho người lao động đến thư giãn, thanh thản cân bằng lại với cuộc sống căng thẳng của quá trình làm việc và cuộc sống đô thị. cảnh quan công viên phải đẹp và đầy tính thiên nhiên. Công viên phải là như vậy không thể có gì khác hơn. Công viên tuyệt đối không phải là nơi kinh doanh kiếm tiền ờ bất cứ hình thức nào. Đây là công trình phúc lợi xã hội chứ không phải là cơ sở kinh doanh dịch vụ. Do vậy Nhà nước phải nuôi nó. Nếu có thu tiền vào cổng thì cũng lấy thêm một ít chi phí hỗ trợ cho công việc giữ gìn, bảo dưỡng, đồng thời còn có ý nghĩa nhắc nhở cho người dân phải có ý thức trách nhiệm giữ gìn bảo vệ nơi mà xã hội đã đem lại cho mình sự thanh bình, yên ả, sự hưởng thụ cái đẹp của thiên nhiên chứ hoàn toàn không có ý nghĩa kinh doanh. Các viện bảo tàng, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử… nếu có thu tiền vào cửa cũng với ý nghĩa đó là chính.
Rất tiếc ở thành phố chúng ta, lấy lý do Nhà nước cấp kinh phí quá ít, phải tìm cách tự nuôi nó… người ta đã khai thác kinh doanh tối đa đến mức không có nơi nào còn được coi là công viên.
Người ta có thể và cần thiết công viên hóa khu vui chơi giải trí (như Đầm Sen, Suối Tiên …) chứ tuyệt đối không thể vui chơi giải trí hóa các khu công viên.
Ngoài ra thành phô” chúng ta rất cần những mảng cây xanh lớn, chỉ cần có cây thôi như khu vườn cây trước Dinh Thống Nhất. Một thành phố lớn ở vùng nhiệt đới rất cần thiết có những rừng cây như vậy. Paris, London, New York, Moskva đều có những rừng cây lớn, những nơi đó thực sự thu hút người dân thành phố và cả khách du lịch.
Các Cơ sở hạ tầng về văn hóa – TDTT chính là những công trình phúc lợi xã hội nhằm nâng cao đời song tỉnh thần và thể lực cho người thành phố. Nó có tính chất phổ cập và chủ yếu là đem lại sự hưởng thụ cho mọi người. Do vậy phải đầu tư chi phí rất lớn và phần thu lại của người dân chỉ để góp phần giữ gìn bảo quản công trình và nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân đối với công trình phúc lợi xã hội. Mọi việc sử dụng cơ sở phúc lợi xã hội để kinh doanh dù ở dưới hình thức nào đều là sai trái.
Trong công trình phúc lợi xã hội về vãn hóa – TDTT, một mặt có tính phổ cập, mặt khác có tính nâng cao. Đầu tư cho công trình có tính phổ cập phải giản dị, tiết kiệm, ngược lại đầu tư cho những công trình có tính đầu tàu, nâng cao phải dược tập trung với chất lượng cao hơn, ở những vị trí đô thị tốt hơn nhằm góp phần tăng thêm bộ mặt văn hóa và kiến trúc cảnh quan cho thành phố.