Các dân tộc với việc xây dựng, phát triển thành phố

1. Người Kinh
Từ đầu thê” kỷ XVII đa phần họ là dân Ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên – xưa tên là Quảng Đức) do Chúa Nguyễn đưa vào để khai khẩn đất hoang, mở mang bờ cõi. Họ phân bô” khắp vùng miền Đông, miền Tây trong đó có đất Sài Gòn – Gia Định. Đến thời kỳ Pháp thuộc và thời kỳ chiến tranh – Khi Đất nước bị chia đôi cũng là lúc một sô” lượng lớn người di cư từ các tỉnh Bắc Bộ vào – đa phần họ là người Công giáo.
Sau năm 1975 – Đất nước thống nhất, một đợt lớn người Bắc nữa theo gia đình, họ hàng bà con đã từng sinh sống, làm ăn và chiến đâu ở trong Nam, tiếp tục vào định cư, trong đó rất nhiều người sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đến nay hàng năm số người miền Bắc, miền Trung, miền Tây và kể cả vùng cao nguyên Trung Bộ đêu có một lượng người khá lớn kéo vào kiêm sống tại thành phố Hồ Chí Minh, nhất là khi các địa phương đó gặp khó khăn như thiên tai, dịch hoạ vv…
Cho đến nay số người Kinh tại thành phô” Hồ Chí Minh chiếm 92,5% dân số và con số này còn đang tiếp tục gia tăng. Người Kinh đóng vai trò chủ yếu trong việc xây dựng phát triển thành phố, nhất là những thành phần trí thức, những người có tay nghề cao đã trở thành lực lượng nòng cốt trong các cơ sở kinh doanh sản xuất dịch vụ và các cơ sở văn hoá xã hội. Tuy nhiên số người đến thành phố sau khi gặp khó khăn ở quê nhà thường cũng đem lại những khó khăn râ”t lớn cho thành phố như lấn chiếm đất đai, kinh rạch xây nhà ổ chuột, làm các nghề không ổn định, và một số người trong bọn họ thường tạo nên sự mất an ninh trật tự, tệ nạn xã hội…

2. Người Hoa
Người Hoa cũng là một dân tộc đến đây rất sớm. Đầu thế kỷ XVII, cuối thời nhà Minh, khi nhà Thanh thống lĩnh toàn bộ lãnh thổ Trung Hoa, quan quân nhà Minh kéo theo một số dân CƯ ven biển miền Nam Trung Hoa gồm Phước Kiến – Triều Châu – Quảng Đông … chạy sang lánh nạn ở Việt Nam rồi sau đó ở lại Việt Nam sinh cơ lập nghiệp – Ban đầu họ kéo vào các tỉnh miền Trung, nhưng các vua nhà Nguyễn đã chuyển họ về phía Nam để khai khẩn đất đai sinh sống – Trong đó số người Hoa tập trung ở vùng Bạc Liêu – Cà Mau hình thành một cộng đồng khá riêng biệt. Sau đó Mạc Cửu người đứng đầu cộng đồng người Hoa này đã hoà nhập với cộng đồng người Việt dưới sự cai quản của chính quyền nhà Nguyễn. Họ hình thành một cộng đồng khá lớn ở khu vực Đồng Nai, rồi chuyển về khu vực Chợ Lớn và sông chủ yếu ở các quận 5, 6, 8, 10, 11 với dân số gần 430.000 người chiếm 8,5% dân sô” của thành phố. Người Hoa chủ yếu là người Hán, có tinh thần dân tộc và tính cộng đồng rất cao.
Họ giúp đỡ hợp tác với nhau làm ăn buôn bán và trở thành một lực lượng kinh tế khá mạnh. Có một thời (chế độ cũ) kinh tế người Hoa ở Chợ Lớn đóng vai trò quan trọng – có lúc là vai trò chủ đạo kinh tế của thành phố. Nói chung họ là những người làm ăn lương thiện, coi vùng đất mới này là quê hương thứ 2 của mình, trong đó lớp con cháu sau này càng gắn bó với quê hương mới hơn.
Người Hoa làm ăn phồn thịnh, họ xây chợ (Bình Tây), xây chùa, xây nhà cửa phố phường – Dãy phô” Triệu Quang Phục là một dãy phô” mang đặc thù của đô thị Nam Trung Hoa. Lôi sống gắn bó, có kỷ luật, kỷ cương, có tính cộng đồng cao của họ có nhiều tác động ảnh hương tới lối sống của người Việt mới di cư đến. Mặt khác những đặc điểm của thiên nhiên phương Nam, lối sống của người Sài Gòn cũng có tác dộng ảnh hưởng ngược lại đến họ – họ cũng sống phóng khoáng năng động, dễ dãi hơn, họ tiếp thu được khá nhiều mặt tốt của ngươi Việt. Mặc dù tính truyền thống của dân tộc người Hoa – nhất là người Hán rất cao, rất bền vững, nhưng sang sống ở Việt Nam họ cũng thay đổi rất nhiều – người Hoa ở Chợ Lớn có nhiều điều khác với người Hoa bản gốc và Hoa kiều các nước khác – chính họ cũng tự hào về điều đó.

3. Người Khơ me – Người Chăm và các dân tộc khác
– Người Khơ me
Từ trước thế kỷ XVI – XVII trên vùng đất Sài Gòn có một số ít người Khơ me sinh sống – thật ra họ là số người Khơ me có xung khắc về quyền lợi và chính kiến với người Miên chính thống, nên đã bị vua Cao Miên đẩy từ Campuchia sang sống trên đất này – Họ đặt tên cho đất này là Thuỷ Chân Lạp với thủ phủ là PREI – NOKOR nằm tại khu vực Sài Gòn hiện nay.
Khi người Việt khai khẩn đất đai, mở mang bờ cõi thì chỉ còn một số ít người Khơ me tiếp tục sinh sống tại đây với khoảng 5.000 người, chiếm gần 0,1% dân số trong đó có 1/2 dân số là theo đạo Phật – Cộng đồng người Khơ me ở thành phố Hồ Chí Minh dường như không có tác động ảnh hưởng gì chung đến cộng đồng dân cư của thành phố, tuy nhiên họ vẫn được đối xử bình đẳng như một dân tộc anh em – các ngày lễ, ngày tết của họ vẫn được tôn trọng và giữ gìn.
– Người Chăm
Người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh có hơn 5.000 người, chiếm khoảng 0,1% dân số thành phố, và hầu hết là theo đạo Hồi – chưa có tài liệu nào nói rõ về tung tích lai lịch của họ, nhưng chắc chắn họ là số người còn lại của đất nước Chiêm Thành xưa kia như người Chăm ở các tỉnh miền Nam Trung Bộ, theo sử liệu thì số người Chăm này di cư sang Campuchia, rồi từ Campuchia trở về Tây Ninh Việt Nam. Giống như người Khơ me họ không có tác động ảnh hưởng gì đến cộng đồng chung của thành phố, tuy nhiên họ vẫn được tôn trọng, đối xử bình đẳng như một dân tộc anh em – các tập quán văn hoá, tín ngưỡng của họ vẫn được phát huy gìn giữ.
Trong khu vực thành phô Hồ Chí Minh cũng có một số di tích kiến trúc nhỏ của người Chăm, với văn hoá và kiến trúc của họ không ảnh hưởng gì mây đến cộng đồng chung.
– Các dân tộc khác
Ngoài người Khơ me và người Chăm thành phố còn có hơn 20 dân tộc khác sinh sống nhưng với số lượng rất ít chỉ khoảng hơn 5.000 người – khoảng hơn 0,1% dân số – chủ yếu là người Tày, Nùng, Mường, Thái, Gia Rai, Ê Đê … các dân tộc này thông thường không phải trực tiếp từ trên núi xuống mà hầu hết đã từng sông một thời gian lâu tại các vùng của người Kinh, nên về cơ bản họ đã Việt hoá rồi sau đó tiếp tục vào sinh sống ở thành phố. Nhìn chung họ không có ảnh hưởng gì đến cộng đồng chung.
Ngoài ra còn có nhiều người ngoại quốc khác, số lượng ngày càng lớn, trong đó một số người Ân, Mã Lai đã có mặt từ rất sớm.