Công trình tôn giáo với kiến trúc quy hoạch TP.HCM

Thành phố Hô Chí Minh có 1.730.778 người theo đạo chiếm 34,4% dân số, trong đó 60% theo Phật giáo, 38% theo Công giáo và Tin lành, còn lại là các đạo khác.
Theo các giáo hội, thì con số này ngày càng tăng không chỉ trong giới trẻ mà ngay trong những người lớn tuổi. Điều này cũng không lấy gì lạ, giống như các nước tiên tiến khác, xã hội càng hiện đại càng phụ thuộc vào cái gì do con người tạo ra, thì ngược lại người ta ưàng hướng về cái gì đây không phải do con người tạo ra. Mặt khác xã hội hiện đại quá ầm ỹ, quá tốc độ, quá tranh chấp để tồn tại, dường như lúc nào người ta cũng phải đâu tranh giữa cái tốt với cái xâu, giữa cái thiện với cái ác, căng thẳng, mệt mỏi… Vì vậy khi được nghỉ ngơi dù lâu dài hay chỉ là tạm thời người ta đều muốn tìm đến sự yên tĩnh, sự thanh thản. Có người quay về với thiên nhiên, có người tìm đến những thú vui này khác, nhưng cũng rất nhiêu người tìm về cõi tâm linh. Tâm linh đã thực sự trở thành một nhu cầu của xã hội đương đại và hiện đại.

1. Hiện trạng các công trình tôn giáo
Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 1.078 ngôi chùa lớn nhỏ và 63 nhà thờ Thiên chúa và Tin lành. Tính theo đầu người thì mỗi chùa cho bình quân 1.000 người, và mỗi nhà thờ cho bình quân hơn 10.000 người. Đó là những con số quá cao khiến cho đến những ngày lễ của các giáo hội đã tạo ra sự quá tải rât lớn. Ngày lễ tôn giáo vốn là những ngày vui vẻ trong sự bình yên, lắng đọng, thì trở thành những ngày xáo động, kẹt đường, kẹt xe và kèm theo rất nhiều vấn đề xã hội khác xảy ra.
Mặt khác các công trình tôn-giáo đa phân đã xây dựng hơn 50- 70 năm, hầu hết đều xuống cấp hư hỏng nghiêm trọng, do đó họ đều có nhu cầu xây dựng lại trên nền nhà cũ, khuôn viên của các ngôi chùa và nhà thờ một phần đã hiến cho Nhà nước xây trường học, bệnh xá, nhà trẻ v.v… một phần bị dân cư lấn chiếm, nên diện tích đều bị cắt xén đi rất nhiều. Nay có nhu câu xây dựng, tín đồ, tăng ni, phật tử lại tăng hơn trước, nên mặc dù gọi là xây dựng lại trên nền nhà cũ nhưng hầu hết đều xây dựng to lớn hơn trước, lên tầng, lên sân thượng, lên gác chuông… Dù hình thức kiến trúc vẫn cố gắng giữ dáng vẻ của một ngôi chùa cổ kính, nhưng sảnh lấn ra tận mặt đường, mái chùa trùm lên kín mặt đất. Điều đáng nói là không còn không gian cảnh quan của một ngôi chùa nữa: có sân, có vườn, có cây cỏ hoa lá … “Chùa mặt tiền” chùa bị ép giữa 2 nhà phố cao lênh khênh và trước cửa chùa là đủ thứ hàng quán dịch vụ… Đáng báo động hơn là có những ngôi chùa và nhà thờ nằm trong hóc trong hẻm ngoằn ngoèo, mỗi lần sinh hoạt hàng trăm hàng ngàn người chen chúc nhau, và nếu xảy ra tai nạn, cháy nổ… thì không có cách gì thoát ra được, không có cách gì cứu chữa được.
Chúng tôi có gặp Hoà thượng Thích Trí Quảng, Phó chủ tịch Hội Phật giáo Việt Nam phụ trách khu vực phía Nam. Ông nói Giáo hội có mua một khu đất 2 ha bên Thủ Thiêm để xây một ngôi chùa thờ Phật vừa để giảng đạo Phật (riêng ông đã có gần 20.000 đệ tử). Ông theo phái Thiền học Nhật Bản, ông chủ trương không xây dựng chùa to, mà chủ yếu là tạo cảnh quan đẹp xung quanh chùa. Nhưng khi xin phép xây dựng thì cơ quan chức năng trả lời: “Khu đất của ông thuộc khu dân cư, không được phép xây dựng công trình tôn giáo”.
Xu thê xây dựng các công trình tôn giáo ngày càng to càng chật bởi nhu cầu lễ hội của giáo dân mỗi ngày một lớn mà đất đai thì không sinh sôi náy nở. Chính vì vậy, nên có tình trạng nhiều nhà dân để tượng Phật, tượng Chúa thậm chí xây cả miếu thờ trên sân thượng các nhà phố để hàng ngày có thể tu tại gia, những ngày lễ lớn mới đi chùa.

2. Lễ hội với các công trình tôn giáo
Những năm qua lễ hội được khôi phục rất nhiều. Ngoài những lễ hội có tính truyền thống của địa phương thì rất nhiều lễ hội khác đều có tính tôn giáo.
Rằm tháng Giêng, Rằm tháng 7, Phật Đản, Nôen, Lễ Phục sinh, Lễ Phật cô đơn v.v… đêu trở thành những ngày lễ hội rất lớn của nhân dân thành phô”. Tất cả các chùa chiền, nhà thờ dều đông nghẹt người vòng trong, vòng ngoài. Tăng ni, phật tử, tín đồ là đương nhiên, nhưng đông gấp bội là những người chẳng theo tôn giáo nào. Có người với lòng thành kính đến dâng hương để cầu mong sự bình yên, sự thành đạt cho mình và cho gia đình. Còn lại rất đông , rất đông đi chùa, đi nhà thờ như một thứ đi trẩy hội cho đông cho vui – chen lân, lạng lách, nhìn người này, ngó người kia, cố tìm ra một thứ gì khác thường và chỉ có thế thôi chứ chắc gì họ đã nghĩ đến Chúa, đến Phật.
Ngoài những người có nhu cầu về tâm linh và tín ngưỡng ra, số khá đông chủ yếu là thanh thiếu niên họ có nhu cầu tìm đến chỗ đông vui, hội hè là chính. Vì vậy làm cho các công trình tôn giáo vốn đã quá tải lại càng căng thẳng hơn trong những ngày lễ hội. Chúng tôi có hỏi một sô” Hoà thượng và Cha cô – chính họ cũng không thích biến những ngày Lễ Thánh của mình thành những cuộc hội hè xô bồ như vậy.
Xung quanh các công trình tôn giáo, và ngay trong sân chùa hình thành hàng loạt các dịch vụ bán hương, hoa, chim, cá (ngày Lễ Phóng sinh), bán sách kinh, bưu thiếp v.v… và kèm theo đó là rất nhiều hàng quán ăn uống. Nhà chùa cũng cho thuê mặt bằng để làm dịch vụ; chú tiểu, ni cô cùng tham gia bán hương hoa. Khói hương nghi ngút chen lẫn với mùi thức ăn và mùi hoa nhài; rác rưởi đầy sân, đầy đường và đáng buồn hơn cả là những người ăn xin, cụ già có, con nít có, cụt chân, cụt tay có, trong đó có lắm người giả nghề ăn xin. Ớ các công trình công giáo nghiêm túc hơn, chặt chẽ hơn, nhưng cũng không thể kiểm soát được các thứ dịch vụ vòng ngoài.
Nơi linh thiêng, nghiêm tĩnh trở thành chốn hội hè tạp nham gây ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự an ninh đô thị, nhất là ảnh hưởng về mặt giao thông và vệ sinh môi trường.
Vân đề ở đây không còn là những nhu cầu tâm linh nữa mà đã biến thành nhu cầu vui chơi hội hè. Ngày rằm tháng Giêng, ngày Noel… đã biến thành ngày lễ hội của toàn xã hội. Các công trình tôn giáo rõ ràng không thể đáp ứng cho những nhu cầu có tính toàn xã hội đó. Vân đề là làm sao trong những ngày lễ hội lớn đó vẫn giữ được cho các công trình tôn giáo tính trang trọng, tính nghiêm túc hướng lòng người vào cái thiện, cái phúc, cái yên bình … để rồi họ tin tưởng hơn vào cuộc sông, tin tưởng hơn vào xã hội.
Đổ cũng là một phần của vấn đề trật tự văn minh đô thị, một phần của sự khai thác, phát huy bản sắc tốt đẹp của dân tộc.
Các công trình tôn giáo không chỉ có ý nghĩa to lớn đối với những người theo đạo, mà còn có ý nghĩa rất lớn với xã hội nói chung. Nếu biết khai thác những mặt tốt của nó sẽ làm cho cuộc sống đô thị yên bình, phong phú hơn, nếu không quan tâm thích đáng sẽ có những tác hại khó lường trước được.
Tôn giáo không chỉ là vấn đề chính trị xã hội mà còn là một nội dung rất quan trọng trong tổ chức đô thị và quy hoạch không gian đô thị, bởi vì không chỉ hơn 1/3 dân sô’ theo các tôn giáo mà các lễ hội của tôn giáo còn mang tính xã hội rất cao, có tác động rất lớn đến cuộc sống đô thị.
Công trình tôn giáo là một thành phần khá quan trọng trong cơ cấu đô thị. Vì vậy trong tổ chức đô thị, quy hoạch xây dựng và bô’ cục không gian Kiến trúc đô thị phải coi các công trình tôn giáo là một nội dung tất yếu. Nhà nước phải có những chính sách về đất đai, về quy hoạch, về kiến trúc, về xây dựng cơ bản phù hợp với các công trình tôn giáo.
Các công trình tôn giáo phải là những kiến trúc đẹp mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần làm phong phú thêm cho kiến trúc cảnh quan và môi trường trong lành của thành phô’, và nếu có thể sẽ là những công trình dặc sắc, cùng với nhiều công trình đặc sắc khác của thành phố, được lưu giữ lại cho nhiều thê’ hệ mai sau.