Kiến trúc cao tầng ở Việt Nam và ở thành phố Hồ Chí Minh – P1

Ở Việt Nam chủ yếu là ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, cũng có thể thêm Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ; chắc chắn sẽ không nằm ngoài quy luật kiến trúc cao tầng đó. Đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh; tưorng lai 2020 dân số thành phô Hồ Chí Minh sẽ có khoảng 10.000.000 người, trong khi đất có thể xây dựng đô thị chỉ khoảng 74.200 ha chiếm khoảng > 35% đất tự nhiên của toàn thành phố – tức là mỗi người bình quân chỉ có 74m2 đất đô thị, con số này ít hơn 5-10 lần các thành phố khác trên thế giới. Do vậy xu hướng tất yếu là phải phát triển lên cao.
Dĩ nhiên sự phân bố kiến trúc cao tầng còn phụ thuộc vào các khu vực đô thị khác nhau. Kiến trúc có số tầng cao nhiều chủ yếu là tập trung ở khu trung tâm chính và các trung tâm khác của thành phố; khu cận trung tâm số tầng cao sẽ ít hơn, các quận ven nội cũ, các quận mới và ngoại thành chủ yếu là nhà thấp tầng.
Trung tâm chính với chức năng chính là trung tâm hành chính, trung tâm thương mại, dịch vụ, tài chính và giao dịch, tất yếu phải sử dụng diện tích kiến trúc rất lớn. Thử làm một vài bài tính sơ bộ:
– Nếu thành phố có 10.000 văn phòng kể cả trong nước và nước ngoài 70% tập trung tại trung tâm chính; trong đó mỗi văn phòng bình quân 10 người và phải sử dụng tối thiểu là 8m:/người thì phải cần đến 560.000m2, tức 800.000m2 sàn.
– Các loại hình khách sạn khoảng 10.000 phòng cũng cần khoảng 400.000m2 sàn.
– Các loại công sở, ngân hàng, trung tâm tài chính… cũng cần khoảng 300.000m2 sàn.
Chưa kể các lĩnh vực khác, riêng 3 loại hình trên đã cần – khoảng ~1.500.000m2 sàn kiến trúc; Trong khi đó đất thực tế các khu trung tâm có thể dành cho xây dựng các lơại công trình đó với mật độ xây dựng 35% chỉ có khoảng 125.000m2. Như vậy tầng cao bình quân của các loại công trình này là 12 tầng; có nghĩa tương đương với việc xây 100 nhà cao tầng thì 10 cái 9 tầng; 25 cái 12 tầng, 20 cái 18 tầng, 10 cái 24 tầng và 10 cái trên 24 tầng.
Riêng trong lĩnh vực nhà ở đến năm 2020 trung tâm chính của thành phố có khoảng 684.000 người; nếu bình quân 18m2 ở/người thì cần phải có khoảng 19.000.000m2 sàn kiến trúc. Trong khi đó diện tích đất xây dựng nhà ở thực tế với mật độ xây dựng 40 %, chỉ có khoảng 3.031.560m2. Như vậy bình quân tầng cao của các loại nhà ở là 6,3 tầng. Có nghĩa là tương đương với việc xây 100 ngôi nhà thì trong đó có 25% nhà 4 đến 5 tầng, 30% nhà 9 đến 12 tầng; 30% nhà 15 đến 18 tầng và 5% nhà trên 18 tầng.
Đây là một khối lượng nhà cao tầng khá lớn, nó sẽ làm thay đổi hẳn bộ mặt kiến trúc cảnh quan khu trung tâm thành phố và là vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu kĩ, thậm chí chuẩn bị sẩn mặt bằng xây dựng, để từ đó có thể sắp xếp sơ bộ bố cục toàn cảnh không gian kiến trúc, về việc này Viện Quy hoạch xây dựng và Văn phòng Kiến trúc sư trưởng thành phố cũng đã sơ bộ nghiên cứu nhưng tính hiện thực chưa cao, bời chưa nắm kĩ hiện trạng thực tế xây dựng cũng như những dữ liệu có tính xác thực hơn. Dĩ nhiên đây cũng là việc làm dần, dựa theo tình hình phát triển kinh tế để bố cục cân đối lại.
Trong bố cục không gian kiến trúc cao tầng sơ bộ đề xuất những nguyên tắc sau:
– Phải có khoảng cách nhất định đến các công trình thuộc diện bảo tồn kiến trúc – cảnh quan. Khoảng cách này phụ thuộc vào tính chất của từng công trình bảo tồn. Sao cho kiến trúc cao tầng không ảnh hưởng đến tầm nhìn và ảnh hường đến cảnh quan chung.
– Các kiến trúc cao tầng không thê bô trí nối tiếp liên tục về các hướng mà phải có khoảng cách nhất định vói nhau. Trong phạm vi khoảng cách đó có thê là không gian trống, không gian xanh hoặc những kiến trúc thấp tầng.
Xung quanh hoặc ít nhất phía trước kiến trúc cao tầng phải có bố trí không gian ngoại cảnh (landscape) như cây xanh, hồ nước, tượng đài, tiểu cảnh trang trí có tính nghệ thuật bảo đảm sự nối kết hài hoà giữa công trình với không gian bên ngoài.
– Các kiến trúc cao tầng nhất thiết phải có khoảng lùi nhất định so với lộ giới – Chỉ giới xây dựng – theo quy định công trình càng lớn, khoảng lùi càng lớn – Khoảng lùi ở đây là chỉ đối với khôi kiến trúc cao, còn các khối kiến trúc thấp đều có thể nằm ngay trên chỉ giới xây dựng theo quy định.
– Các kiến trúc cao tầng nhất thiết phải bảo đảm các tiêu chí kĩ thuật hiện đại, như vể PCCC, thoát nạn, cứu nạn, thông tin tín hiệu, chỗ để xe V. V… và phải bảo đảm an toàn tuyệt đối.
– Trong tổng thể kiến trúc cao tầng bao giờ cũng có những công trình rất cao, công trình hoặc cụm công trình rất lớn. Những công trình chi phối toàn cảnh bố cục không gian kiến trúc cao tầng, tạo thành những trục, những điểm chốt của bố cục. Các trục và điểm chốt thể hiện tính tổ chức chặt chẽ của đô thị, giống như những cột mốc, từ đó tạo những điểm thu hút không gian cảnh quan và tầm nhìn, và tạo nên ấn tượng rất mạnh mẽ. Ngược lại từ trên những điểm “chốt” đó có thể mở tầm nhìn về toàn cảnh. Bóng dáng (Silouette) của thành phố thể hiện một cách khoẻ khoắn sinh động trên đường chân trời.
Hiện nay từ trên máy bay nhìn xuống, hay từ phía Nhà Bè nhìn lên cái bóng dáng tổng thể đó với những trục, những chốt chưa thành quy luật rõ ràng.