Nhận định chung về tình hình phát triển đô thị hiện nay ở TP.HCM

Thống kê dân số 01-4-1999, thành phố Hồ Chí Minh đã có 5.037.155 người. Theo các chuyên gia về đô thị thì đến nay 2001 – Dân số thành phố đã xấp xỉ 6,0 triệu người (chưa kể người mới nhập cư).
Từ 2 thập kỷ trước, Sài Gòn đã là thành phố cực lớn. Đến nay thành phố Hồ Chí Minh không chỉ về dân số mà còn về quy mô – nếu không có những biện pháp khống chế, kiểm soát thích đáng thì đến 2010 sẽ trở thành một siêu đô thị với dân số khoảng 10 triệu người.

1. Thành phô Hồ Chí Minh cũng có những vấn đề tồn tại như các thành phô cực lớn ở các nước đang phát triển
Đô thị đang phát triển tự phát ở các Quận Tân Bình, Thủ Đức, Quận 7, Quận 9 và huyện Bình Chánh do những người mới nhập cư, những người nghèo bị giải toả từ nội thành ra xây dựng những khu ở lụp xụp, trong đó có các khu ở tạm cư của công nhân cạnh các khu công nghiệp.
Hiện tượng lấn chiếm kinh rạch vẫn còn tiếp diễn.
– Giao thông ách tắc do nhiều điểm kẹt xe trong thành phố ở các trục đường chính xuyên qua nội thành, đặc biệt là những giờ cao điểm. Lượng xe tải xuyên qua nội thành quá lớn, xe 2 bánh ngày càng phát triển cùng với ý thức giao thông kém là nguyên nhân chính thường dẫn đến ách tắc giao thông. Hệ thống cầu đường xuống cấp nghiêm trọng.
– Thành phố bị rất nhiều điểm ngập nước dù chỉ qua một cơn mưa không quá lớn.
– Vào mùa khô năm nào cũng xảy ra các vụ hoả hoạn, nhiều nhất là ở các xóm nhà lụp xụp, các chợ, kho hàng… và thông thường là không cứu chữa được.
– Môi trường bị ô nhiễm:
• Khí thải của xe cộ giao thông trong nội thành.
• Nước thải sản xuất của các xí nghiệp ra kinh rạch.
• Rác và nước thải bẩn do lấn chiếm lòng lề đường, vỉa hè.
• Một số kinh rạch tiếp tục bị lấn chiếm.
– Theo thống kê bình quân diện tích nhà ở trên đầu người 8 – 1 Om2 và hơn 90% dân số có nhà ở. Nhưng gần 70% là nhà bán kiên cố và nhà tạm. Trong nội thành cũ hầu hết nhà ở xây dựng từ nửa thế kỉ trước đều đã xuống cấp nghiêm trọng, cần phải xây dựng lại. Nhà ở vẫn thiếu trầm trọng, đặc biệt là nhà ở cho người nghèo, người có thu nhập thấp.
– Các khu ở mới tại các quận ven, quận mới chủ yếu vẫn chạy theo phương thức chia lô bán đất dân tự xây dựng và một số chung cư không phù hợp. Kết quả là:
• Người nghèo, người thu nhập thấp không mua nổi, không ở nổi.
• Rất thiếu các tiện nghi công ích.
• Mật độ xây dựng cao, cây xanh, khoảng trống ít.
– Số lượng người nhập cư lớn nhất là ở các khu vực quận ven, quận mới. Đa số họ chưa có công ăn việc làm ổn định. Thường ngày vào khu vực nội thành để kiếm sống như bán rong, bán vé số, chạy xích lô, Honda ôm, thuê vác mướn, phụ hồ xây dựng, phụ việc gia đình… và kể cả những nghề làm ăn không lành mạnh khác. Đa số đều không có nhà ở và thường họ là những người tạo nên các khu ở lụp xụp mới, lấn chiếm kinh rạch. Trong số họ cũng thường nảy sinh ra các tệ nạn xã hội.
Ngoài ra trẻ lang thang ở thành phố cũng chiếm một số lượng khá lớn.

2. Những nỗ lực của chính quyền và cộng đồng trong việc khắc phục các khó khăn của một thành phô cực lớn
– Chính sách phát huy các thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho rất nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hình thành. Ngoài việc đóng góp đáng kể cho thu nhập quốc dân, họ đã thu hút được một lực lượng rất lớn lao động. Rất nhiều người nghèo ở thành phố đã có công ăn việc làm. Tuy nhiên lực lượng lao động dư thừa (thất nghiệp) vẫn còn rất lớn. Họ đã kiếm sống bằng những nghề không ổn định.
– Thành phố đã tạo nhiều tuyến đường mới trong những năm gần đây, tăng tỉ lệ đường sá lên đáng kể ở các quận cận trung tâm, quận ven, song vẫn không theo kịp sự phát triển của các phương tiện giao thông. Thực tế nội thành còn có thể mở thêm nhiều tuyến đường khác để bổ sung vào mạng lưới giao thông nội thành. Các quận mới và các huyện ngoại thành phát triển giao thông chưa tương xứng với yêu cầu.
– Một thành còng lớn của thành phố là việc giải toả thông thoáng và dần dần làm xanh sạch kinh Nhiêu Lộc – Thị Nghè góp phần làm cho bộ mặt đô thị thay đổi rõ rệt, khởi đầu cho việc làm xanh sạch hệ thống kinh rạch của thành phố. Tuy nhiên đây mới chỉ là thành công bước đầu; vì hệ thống kinh rạch bị ô nhiễm, bị lấn chiếm quá lớn, việc giải toả đòi hỏi phải có thời gian và kinh phí rất lớn.
– Trong nhiều năm qua quỹ nhà ở của thành phố đã tăng lên đáng kể:
Đa số các khu ở lụp xụp ổ chuột trong nội thành cũ (hậu quả của sự phát triển đô thị tự phát từ những thập niên 60, 70) đã lần lượt được xây dựng lại thành những khu ở mới.
Các quận ven như Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh… đã mọc lên rất nhiều khu ở mới – Một phần nào đã đáp ứng được nhu cầu ở của thành phố và góp phần kéo giãn bớt dân từ các quận trung tâm ra ngoài.
Chính sách xã hội hoá nhà ở, tạo cho người dân tự xây dựng nhà ở cho mình đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết nhà ở và làm ăn sinh sống cho một số lượng không nhỏ người dân thành phố. Tuy nhiên việc xây dựng quá nhiều nhà riêng lẻ đã gây khó khăn không ít và hậu quả không tốt cho thành phố sau này.
Dù đã có rất nhiêu nỗ lực, nhà ở của thành phố vẫn còn tồn tại những vấn để rất lớn.
– Từ sau ngày giải phóng thành phố đã có cố gắng rất nhiều trong việc xây dựng các công trình công ích phúc lợi xã hội. Đây là một khiếm khuyết nghiêm trọng của thành phố trong thời kì chế độ cũ.
Trường học được xây dựng nhiều và phân bố đều hơn trên địa bàn đô thị. Mặc dù lượng học sinh tăng rất lớn nhưng về cơ bản hệ thống trường học cũng đã đáp ứng được. Tuy nhiên so với yêu cầu của một thành phố vãn hoá tiên tiến thì vẫn còn khoảng cách khá xa.
Hệ thống y tế cơ bản đã được phủ kín – Nhưng các bệnh viện chuyên khoa, các bệnh viện có trang bị hiện đại và có bác sĩ giỏi, đều bị quá tải nghiêm trọng.
Những cố gắng của thành phố trong việc phát triển các công trình văn hoá, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, công viên cây xanh… là những thành tích lớn lao không thể phủ nhận được. Nhờ đó góp phần nâng cao lên rất nhiều đời sống văn hoá, tinh thần và thể lực của người thành phố.
Tuy nhiên rất nhiều người nghèo vẫn chưa được hưởng thụ các công trình đó, mặt khác lại còn rất thiếu những công trình để phục vụ cho việc nâng cao – đạt trình độ tiên tiến ngang với các nước trong khu vực. Các cơ sở này chưa được đầu tư đúng mức, nhất là đầu tư cho việc duy tu bảo tồn, nâng cấp.
Nhìn chung đối với các công trình công ích phúc lợi xã hội, thành phố đã có sự quan tâm rất lớn; Thể hiện được tính ưu việt của một thành phố xã hội chủ nghĩa – Song vẫn còn khoảng cách không nhỏ so với yêu cầu phát triển của thực tiễn – xã hội và so với những thành phố lớn nói chung trên thế giới.
– Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ song cũng tạo ra cho mình những nét riêng biệt – “Nét đẹp Sài Gòn” qua các công trình kiến trúc đẹp, các dãy phố và chợ đầy ấn tượng và những con đường rợp bóng cây cao.
Dẫu sao thành phố cũng đã biết gìn giữ những di sản quý hoá đó. Trong sự xây dựng phát triển một cách hỗn tạp ở đầu thời kì đổi mới, các kiến trúc cao tầng mọc lên dưới sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan quản lí, tuy có những chỗ những nơi chưa tốt, nhưng nhìn chung đã tạo nên được một bộ mặt mới ở khu trung tâm thành phố, khá khang trang, tiếp cận được với văn minh hiện đại nhưng không làm mất đi dấu ấn của một Sài Gòn xưa.