Tác động của những biến động lịch sử với việc xây dựng Đô thị Sài Gòn – TP.HCM – P1

1. Sài Gòn là một thành phố trẻ, lịch sử phát triển chỉ hơn 300 năm, nhưng trong 300 năm đó và chủ yếu là giữa thế kỷ XIX đến nay đã có rất nhiều biến động lịch sử. Cứ sau mỗi Tân biến động như vậy thành phố Sài Gòn lại có sự chuyển biến đổi thay rất rõ nét, và mỗi giai đoạn với những đặc điểm lịch sử khác nhau, đã tác động đến rất rõ từng quá trình phát triển của thành phố.
Có thể chia sự phát triển của thành phô” thành 7 giai đoạn phụ thuộc vào những biến động lịch sử sau đây:
(1) Thời kỳ trước thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX;
(2) Thời kỳ Pháp thuộc (Từ 1861 đến 1945)
(2.1) Thời kỳ trước đại chiến lần thứ 2;
(2.2) Thời kỳ đại thế chiến 2;
(3) Thời kỳ chiến tranh chống đế quốc Pháp (1945 – 1954);
(4) Thời kỳ Mỹ can thiệp vào Việt Nam (1955 – 1975)
– Giai đoạn 1955 – 1960;
– Giai đoạn 1960 – 1975;
(5) Thời kỳ sau giải phóng thống nhất đất nước (1975 -1985);
(6) Thời kỳ đổi mới mở cửa;
(7) Thời kỳ hiện tại.

2. Những điểm nhận thấy đưực qua lịch sử xây dựng và phát triển Sài Gòn – thành phô” Hồ Chí Minh
2.1. Qua các giai đoạn phát triển thành phố điều nhận thây được đầu tiên là quy hoạch đô thị“>xây dựng đô thị luôn luôn không theo kịp sự phát triển đô thị.
– Đồ án quy hoạch đầu tiên do Coffin nêu lên năm 1861 với dân số 500.000 người và trong phạm vi tương đương Quận 1 – Quận 3 và một phìần các Quận 10 – Quận 5, Phú Nhuận với diện tích ~ 2000 ha là tương đối phù hợp với giai đoạn lịch sử đầu thế kỷ XX. Nhưng đồ án chưa tính đến mối quan hệ lớn hơn, đó là sự nối kết Sài Gòn – Chợ Lớn.
Do đó đến năm 1943 KTS Cerutti và Pugnaire đã đưa đề án quy hoạch mới với 1.200.000 dân và nối kết cả với miền Chợ Lớn. Nhuhg thực tế đến năm 1951 dân số đã hơn 1.600.000 người.
– Năm 1968 có dự án chỉnh trang đô thị Sài Gòn đến năm 2000 với dân số 6.250.000 người và diện tích 21.000 ha. Dự án này đã có tầm nhìn xa tương đối phù hợp, nhưng không được triển khai thành các quy hoạch chi tiết.
– Song đối với sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh phải có một tầm nhìn xa rộng hơn nữa và không thể chỉ có tầm nhìn trong phạm vi thành phố mà phải đặt thành phố Hồ Chí Minh trong mối quan hệ với các địa bàn xung quanh và cả khu vực phía Nam.
Chính vì chưa có một tầm nhìn rộng lớn hơn nên đề án quy hoạch thành phố Hồ Chí Minh được phê duyệt đến năm 2010 cũng chỉ khống chế mức dân số một cách áp đặt là 5.000.000 người.
– Đề án quy hoạch điều chỉnh đến năm 2020 với dân số từ 9- 10 triệu người đã có một tầm nhìn phù hợp hơn, nhưng khi triển khai các quy hoạch chi tiết, và định hướng phát triển không gian đô thị rõ ràng vẫn còn rất nhiều điều chưa phù hợp với thực tiễn phất triển đô thị. Trong đó có những lúc các nhà lãnh đạo của chúng ta tỏ ra chủ quan, duy ý chí, có lúc lại nôn nóng muốn thực hiện ngay mọi việc, dẫn đến phá bỏ những quy hoạch dài hạn.
Chính vì lẽ đó nên sự phát triển đô thị luôn luôn ở thế bị động và luôn luôn phải giải quyết những vấn đề có tính tình thế hơn là có tính chiến lược.
2.2. Trong quá trình phát triển đô thị thường xuyên xảy ra các trường hợp phá bỏ những cái cũ có giá trị để xây dựng những cái mới với mục đích chính trị nhiều hơn là mục đích phát triển đô thị – Dù cái mới có thể có giá trị nhiều mặt hơn cái cũ nhưng sự thiếu tôn trọng với lịch sử là hiện tượng đã có trong quá trình xây dựng phát triển đô thị.
– Năm 1836 Minh Mạng phá bỏ Thành Quy.
– Từ năm 1859 trở đi thực dân Pháp phá bỏ Thành Phụng và rất nhiều công trình khác để xây dựng một thành phố hoàn toàn theo kiểu Phương Tây.
– Năm 1962 Ngô Đình Diệm phá bỏ dinh Norodom mặc dù có thể sửa chữa hồi phục lại như cũ.
– Chính quyền Sài Gòn sửa nhà hát thành nhà Quốc hội v.v…
Tuy số lượng phá bỏ đi không nhiều nhưng lại là những công trình quan trọng và có ý nghĩa lịch sử.
Ngày nay chúng ta đã có thái độ tôn trọng lịch sử và đã biết giữ gìn những công trình quý giá do lịch sử để lại – Nhưng ngược lại hơi có phần thái quá về cách nhìn nhận đối với các công trình của quá khứ – mà không thấy quá trình phát triển của một thành phố là một quá trình chọn lựa để tạo điều kiện cho thành phố có thể tiếp tục phát triển cao hơn cả về khối lượng lẫn chất lượng.
2.3. Trong quá trình xây dựng và phát triển thành phố, thời kỳ nào cũng rất coi trọng vân đề sông rạch và đều muốn phát huy cái ưu thế trời cho đó, nhưng trong thực tiễn xây dựng thì không những không phát huy được mà ngược lại còn làm tổn hại đến sông rạch, làm mất dần đi cái uy thế đó.
– Ngay từ đầu người Pháp đã dự kiến đào một con kinh nối sông Sài Gòn với rạch Bến Nghé để tạo nên một thành phố đảo, 3 mặt sông – Nhưng kết quả là rất nhiều kinh rạch đã bị lấp đi. Cho đến tận ngày nay việc lấp kinh rạch vẫn tiếp tục được thực hiện.
Có thể kinh rạch là một trở ngại cho việc tạo nên những tuyến giao thông bộ của đô thị, có thể vì đất để xây dựng nhà cửa ngày càng thiếu và cũng có thể vì việc giữ gìn những con kinh rạch của thành phô’ ngày càng yếu kém hơn.
Do vậy việc giữ gìn kinh rạch cho thành phố không chỉ là ý đồ mà phải là những chính sách có tính chiến lược và những dự án cụ thê, khả thi phải được đề ra trong quá trình phát triển đô thị.
Việc khôi phục lại được một tuyến kinh rạch như Nhiêu Lộc – Thị Nghè là một việc hết sức khó khăn tốn kém và cho đến nay những dự án khả thi vẫn còn phải tranh cãi rất nhiều. Việc di chuyển Ba Son, Tân cảng và đẩy lùi Cảng về phía hạ lưu để trả lại sông nước cho người thành phố là những việc cực kỳ nan giải.
Cho nên muốn giữ cho thành phố Hồ Chí Minh thật sự là một thành phố sông nước thì phải có những giải pháp rất cụ thể về quy hoạch, về kinh tế, xã hội….
Đồ án quy hoạch đô thị Nam Sài Gòn của SOM – Mỹ thiết kế là một đồ án rất tốt về việc khai thác ưu thế sông nước cho cảnh quan và môi trường – Nhưng vấn đề chính là những dự án xây dựng cụ thể phải làm sao bảo đảm được quy hoạch đó.