Thông điệp về kiến trúc cảnh quan đô thị – P2

3. Vào giữa những năm 60, một hôm nhà văn Hoài Thanh đến thăm nhà thơ Lưu Trọng Lư. Hai ông hàn huyên thế sự. Tôi thấy đôi bạn tri kỷ rất tâm đắc nói đi nói lại một câu: tính nhân văn của người Việt Nam mình cao hơn các dân tộc khác một cái đầu (!). Tôi hơi bị ngỡ ngàng, nhưng nhớ mãi. Có thể hai ông nói hơi quá một chút nhưng càng về sau tôi càng ngấm: Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tôn, Hồ Chí Minh … tính nhân văn đó thể hiện trong quốc sách, trong thơ văn, trên mọi lĩnh vực và biến thành bản sắc Việt Nam.
Tôi nghĩ đến những ngôi đình Việt Nam rất ấm áp khi trời giá lạnh, rất mát dịu khi trời nóng bức, đến đây mọi người đều trở nên hòa thuận, mọi việc đều trở nên ổn thỏa…. Ngôi đình như một biểu trưng cao quý cho tính nhân văn của người Việt Nam và trở thành một trong những giá trị kiến trúc đặc thù của Việt Nam.
Có lần tôi đến thăm người bạn ở phường Bưởi – Hà Nội. Làng Bưởi xưa – nghe nói có trước cả phố cổ Hà Nội rất lâu. vẫn còn đó cổng làng, ngõ ngách, ngõ gạch, ngách 1, ngách 2… và những ngôi nhà xưa xúm xít bên nhau. Đầu ngõ vẫn có ông thợ cạo, cô bán rau, bà bán xôi xéo… có thêm quầy hàng nhỏ: bột ngọt, nước mắm, gạo, mì tôm, coca, omo và sunsilk bồ kết…. Nhà bạn tôi, ngôi nhà lầu mới xây có vẻ hơi bị lạc lõng, nhưng dẫu sao vẫn nghe được hương bưởi bên vườn nhà hàng xóm ngát sang, vẫn vọng qua bờ duối: ” Tôi đi chợ đây, bác có mua gì không?” Từ trên tầng 3 nhìn xuống, mái ngói cổ, nhà tầng mơi và vườn cây cao thấp chen nhau; ngoài kia là Hồ Tây. Giữa thời buổi này mà ở đây vẫn còn cái gì đây thật hiền hòa. Hiền hòa – phải chăng là sự cộng hưởng giữa cái đẹp và tính nhân văn. Tôi cứ thẫn thờ và băn khoăn mãi: sang thế kỷ XXI, ở thành phô hiện đại làm sao có được những khu ở như thế này(?).

Tôi lại nghĩ đến những dãy phố mới mọc lên ở khắp nơi. Thật đáng buồn bởi đủ thứ kiến trúc Đông, Tây, Kim, cổ tạp nham; nhà chỉ rộng hơn 2m mà xây cao 6-7 tầng. Nhưng mãi rồi cũng quen, cũng thấy vui và thân thiết. Không phái là sự chấp nhận hay hài lòng với kiến trúc cảnh quan đó – nhưng tôi cứ day dứt mãi. Nếu không có những ngôi nhà đó, dãy phô” đó trong nhiều năm qua và cả những năm sắp đến nữa, hàng ngàn, hàng vạn người dân ở vào đâu, làm sao có mặt bằng để khấrn khá hơn. Thành phố của chúng ta có được sức sống như ngày hôm nay, phải chăng một phần cũng từ những dãy phố đó. Nhiều người nói: Ở các nước khác người ta không cho dân xây lung tung như thế, nhưng ở nước ta nhà nước lại càng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân tự xây dựng lấy ngôi nhà của mình. Phải chăng tính nhân văn Việt Nam đã có sức tác động rất sâu sắc đến chính sách của nhà nước. Cũng vậy nó sẽ tác động đến mọi người. Người dân rồi sẽ hiểu được mình phải xây nhà như thế nào cho đúng khi họ được hướng dẫn đầy đủ; Những ngôi nhà đã xây dựng theo kiểu học đòi vô thức sẽ được sửa sang lại cho phù hợp hơn, khi cuộc sống của họ ngày khá giả hơn, văn minh hơn.
Thành phố muốn xây nhiều nhà chung cư cho người nghèo, người giải tỏa từ kinh rạch lên ở, nhưng họ phải bán non đi rồi chạy ra những xóm nhà lụp xụp khác ven ngoại thành. Thành phố muốn có những ngôi chợ có lầu để khang trang sạch đẹp hơn, nhưng người bán lẫn người mua vẫn cứ chen chúc nhau xung quanh bên ngoài cái chợ đàng hoàng ây. Thành phố muốn mở rộng những con đường cũ để sau này xe cộ đi lại rộn ràng thông thoáng hơn, nhưng hàng ngàn hộ dân cứ phập phồng lo sợ hai chữ “giải tỏa” làm ảnh hưởng đến cuộc sống đang yên bình của họ. Vâng! thành phố sẽ phải đẹp, văn minh, hiện đại nhưng phải thật hiền hòa cho từng con đường, từng ô phố, từng khu ở, dù cho thành phố có rộng lớn, có đông đúc đến đâu chăng nữa. Chân, thiện, mỹ dường như có mối quan hệ thật ruột rà với tính nhân văn Việt Nam.
Thành phố chúng ta có hàng trăm con đường, hàng ngàn con hẻm, hàng chục khu nhà tập trung; Thành phố chúng ta có khoảng 400 trường học, 216 cái chợ và mới thêm mấy chục siêu thị, có 1078 ngôi chùa và 63 nhà thờ … giá như tất cả đều tìm đến chân, thiện, mỹ. Đường cho thành đường, công viên cho ra công viên, chợ ra chợ, chùa ra chùa, nhà ở cho phù hợp với hoàn cảnh sinh sống của người dân, từ đó từng bước, từng bước chúng ta mới tạo được một thành phố văn minh, hiện đại, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Kiến trúc – quy hoạch phải thâm đượm tính nhân văn Việt Nam.
Đó là bức thông điệp số 3 được phát đi từ di sản của cha ông và từ ước vọng của mọi người.

4. “The Beattie” được công nhận là ban nhạc lừng danh nhất thế kỷ. Họ nổi lên từ một xóm nghèo lụp xụp ở cảng Liverpool nước Anh. Từ thuở nhỏ, John Le’non và các bạn mình đã nghe được những giai điệu dân ca ngọt ngào của xứ Ai – len, những nhịp trống hoang dã của Châu Phi, những vũ khúc An Độ – A Rập dồn dập, những giọng blue buồn của Châu Mỹ và cả tiếng nhị, tiếng chập choẽ của Trung Hoa, tất cả đã được chắt lọc, hòa quyện với chất thuần Ăng – lê để tạo nên “The Beattie”.
Trước đây, người ta chỉ coi trọng và tôn vinh nền văn hóa Châu Âu. Nhưng về cuối thế kỷ, sự đa dạng phong phú của lục địa mới và của Phương Đông nữa ngày càng làm cho thế giới phải vị nể. Nếu trước đây sân khâu Châu Âu với những vở kịch, bale, ôpera bất hủ sẽ mãi mãi còn nguyên giá trị đên mai sau, thì bên kia bờ Đại Tây Dương Hollywood, giải âm nhạc Grammy, sân khấu Broadway ngày càng hấp dẫn thế giới. Điện ảnh Trung Quốc, Iran trở thành hiện tượng; Kiến trúc Nhật Bản rồi Kiên trúc Malaysia tạo được sự chú ý của thế giới. Người ta tiên đoán rằng sang thế kỷ XXI cán cân văn hóa sẽ nghiêng hẳn về Phương Đông. Bởi vì sự tiếp thu những luồng văn hóa khác nhau được chắt lọc hòa quyện với nền văn hóa truyền thống sẽ tạo nên những tinh hoa mới của thời đại. Kiến trúc cũng vậy nếu Châu Âu từng có Le Corbusier, Norman Foster, Johann Otto Von (La grande arch Paris), thì Châu Mỹ cũng có F.L. Wright, Richar Meier, Oscar Niemeyer và Châu Á cũng có Kenjo Tange, Tadao Ando, Kurukawa của Nhật, Ken Yeang của Malaysia và kể cả L.M.Pei KTS người Mỹ gốc Hoa – tác giả các Pyramide thủy tinh ở Louvre.
Sài Gòn – thành phô” Hồ Chí Minh có cái gì đây gần giống với cảng Liverpool của nước Anh hồi ấy và có cái tương đồng của những miền đất mới – Đất nước Việt Nam dù đã có 3000 – 4000 năm lịch sử nhưng vẫn là nước đang phát triển và vốn vẫn là điểm giao lưu, hợp lưu rất thuận lợi của nhiều luồng văn hóa. Vân đề là tiếp thu những tinh hoa của người khác như thế nào để hoà quyện với tinh hoa truyền thống, từ đó tạo nên bản sắc mang tính thời đại cho chính mình.
Được biết, một đoàn KTS Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Họ đề nghị cho vào thăm Huế. Ta không dám cho vào vì sợ mình quá giống Trung Quốc. Nhưng họ đã tự đi, và khi về họ đã nói với ta một câu xanh rờn: Kiến trúc cố đô Huế hoàn toàn khác hẳn với Kiến trúc Trung Quốc. Vâng! Huế không hề có mái cong, song các góc mái cứ như bay vút lên. Bố cục không gian kiến trúc cũng phong thủy, cũng âm dương ngũ hành theo đúng lý thuyết thâm uyên của Trung Quốc, nhưng rất nhẹ nhàng thanh thoát, rất duyên dáng, rất gần gũi; không quá câu nệ, không quá bài bản sắp xếp, rất tự nhiên như hơi thở của con người và của trời đất.
Cha ông chúng ta đã từng khéo như vậy cơ mà!
Đó là bức thông điệp thứ tư của cha ông truyền lại và cũng chính là sự cảm nhận được của chúng ta hôm nay.
Tôi nhớ đến hai câu Kiều mà chắc ai cũng thuộc:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Tứ thơ Trung Quốc, cảnh sắc Phương Bắc mà nghe thật hiền hòa, thật thanh thản, đẹp như tâm hồn Việt Nam và ngọt ngào như một câu ca dao Việt Nam.
Ước gì chúng ta cũng làm được như Nguyễn Du.