Tình hình phát triển dân số TP.HCM trong tương lai

1. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học ở thành phố Hồ Chí Minh
– Theo biểu dồ thống kê tăng dân sô’ trong thập niên qua thì dân sô’ thành phô’ tăng so với những năm trước khoảng 2,15% /năm đến 2,20%/năm trong đó tăng tự nhiên chiếm khoảng 60% và sẽ giảm xuống 50%.
Từ mối quan hệ tăng tự nhiên với tăng cơ học và khả năng tỷ lệ tăng dân sô’ nói chung ta có thể dự báo mức tăng dân sô’ ở các giai đoạn như sau.
Tỷ lệ tăng dân số ở đây đã lấy cao hơn thực tế thông kê (năm 1999 tăng chung 2,14% tăng tự nhiên 1,35%, tăng cơ học 0,79%)

2. Xu hưởng tăng dân số cơ học ở thành phố Hồ Chí Minh

– Theo thực tế các nước phát triển và một số nước đang phát triển có trình độ cao hơn thì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ngày càng giảm mỗi năm khoảng 0,01% ~ 0,02%. Như vậy tăng dân số thành phố chủ yếu là tăng cơ học.
Tuy nhiên mức tăng cơ học ở thành phố ta sẽ không cao; hay nói một cách khác, sẽ tăng trong một giai đoạn nhât định rồi giảm dần; Đó là do:

2.1. Kinh tê’ thành phô’ phát triển theo hướng không sử dụng nhiều nhân lực như:
– Công nghiệp với công nghệ kỹ thuật cao.
– Kinh tế trí thức phát triển.
– Công nghiệp hoá, sinh học hoá nông nghiệp.
– Các ngành dịch vụ cũng sẽ giảm dàn số người phục vụ do có nhiều tiến bộ kỹ thuật.

2.1. Trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, các đô thị, các KCN ngày càng phát triển mạnh
Trong nhiều năm qua các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Long An… ngày càng thể hiện những ưu thế của mình, thu hút đầu tư, phát triển mạnh công nghiệp mà phần lớn là các ngành sử dụng nhiêu nhân công – Sự phát triển đó như một con đê ngăn bớt dòng ngươi đổ về thành phô Hô Chí Minh.
Tuy nhiên đối với những nông dân thời vụ, hoặc gặp thiên tai đa phần họ cũng tiến thẳng về thành phố để kiếm sống qua ngày – Thời gian ở lại thành phô”cũng chỉ mang tính tạm thời.

2.2. Mức độ đô thị hoá ở vùng miền Trung, miền Tây Nam Bộ càng nhiều thì sự di cư vào thành phô’ càng ít
Dân di cư vào thành phố chủ yếu là dân miền Tây Nam Bộ và miền Trung Nam Bộ; một số ít hơn là người miền Bắc và Bắc Trung Bộ.
– Người miền Bắc và Bắc Trung Bộ phần lớn là người đi B ở lại và kéo gia đình vào sinh sông, số lượng này đến nay đã gần hết, phần còn lại là trí thức CB-CNV vào công tác và làm ăn sinh sống. Số người này vẫn tiếp tục di chuyển vào, nhưng số lượng không lớn.
– Nếu miền Tây giao thông phát triển, sản phẩm nông nghiệp được chế biến và xuất khẩu tại chỗ ngày càng nhiều – mức công nghiệp hoá, đô thị hoá ngày càng cao hơn thì sô” người di cư về thành phô” sẽ giảm bớt nhiều.
Cũng như vậy, các khu kinh tê” ở miền Trung, cảng biển, giao thông phát triển như Dung Quất, Chân Mây … và kể cả kinh tê” du lịch phát triển thì mức độ di dân vào thành phô” Hồ Chí Minh sẽ giảm ngày càng nhiều
Ở Châu Âu, trừ Paris, Berlin do phát triển từ sớm, hầu hết đều không hình thành những thành phố cực lớn như các nước đang phát triển; Lý do chính hầu hết nông thôn đã được đô thị hóa; giao thông quá thuận lợi.
Biện pháp tích cực nhất để cho thành phố Hồ Chí Minh không vượt quá quy mô quá lớn, chính là việc phát triển nông nghiệp đô thị hóa nông thôn, và đô thị hoá ở khu vực xung quanh và ngoài phạm vi khu vực thành phố Hồ Chí Minh.
Với chiến lược phát triển kinh tế như hiện nay của nhà nước, thành phố Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ không bị sức ép về dân sô” quá lớn, dân sô” năm 2020 có thể chỉ dừng ở mức dưới 10 triệu người.
Thành phố Hồ Chí Minh dân số sẽ tăng nhanh trong vòng 2 thập niên tới, nhưng không phải là một sự tăng không ngừng để trở thành một thành phố khổng lồ như dạng một số siêu đô thị ở các nước đang phát triển. Do vậy việc quy hoạch thành phố Hồ Chí Minh với không gian đô thị chứa đựng 10 triệu dân cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của thành phô” là có khả năng thực tiễn. Tuy nhiên yếu tô” an toàn và dự phòng cần phải tính toán đầy đủ hơn trong quy hoạch tổng mặt bằng của thành phô”. Đặc biệt là việc tính toán một cách hợp lý sự phát triển các khu vực mđi.