Vấn đề bản sắc đối với kiến trúc Sài Gòn – TP.HCM – P1

kiến trúc cũng là phạm trù của văn hoá nên cũng chịu sự tác động của thiên nhiên, của lịch sử, truyền thống, con người…
Người Việt di cư từ miền Bắc vào và dĩ nhiên mang theo cả truyền thông của họ vào đây, trong đó kiến trúc là một phạm trù rất quan trọng. Tuy nhiên thiên nhiên ở đây có rất nhiều khác biệt với phía Bắc, sự hoà hợp với thiên nhiên có lẽ là yếu tố quan trọng hàng đầu để tạo nên bản sắc riêng của khu vực. Ngoài ra sự hội tụ giao lưu với các dồng văn hóa khác cũng làm cho truyền thông có nhiều thay đổi, hđn nữa qua sự biến đổi của lịch sử, sự tiếp cận với văn minh hiện đại ngày càng nhiều hơn, kiến trúc mang trong mình những yếu tố kỹ thuật rất lớn, sẽ có sự tiếp nhận văn minh hiện đại một cách nhanh chóng để hài hoà với truyền thông.
Nhưng dù chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau thì thiên nhiên và con người bao giờ cũng giữ vai trồ quyết định đối với bản sắc.

1. Kiến trúc từ thời xửa để lại
Từ giữa thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX – Những dòng người di cư vào Nam đã xây dựng xóm ấp , nhà cửa để cư ngụ – nhưng do thiên nhiên ở đấy quá dễ dãi cho nên những ngôi nhà của họ đơn sơ – giản dị với những vật liệu bán kiên cố, đến nay không còn giữ lại được. Việc thờ cúng tổ tiên chủ yếu tập trung ở đình làng. Song những ngôi đình truyền thống vào đến phía Nam cũng đã có nhiều thay đổi.
Đình không còn tập trung trong một kiến trúc lớn liên kết với một vài kiến trúc khác – Ví như đình miền Bắc là nơi thờ Thành hoàng, thờ họ tộc nhưng đồng thời cũng là nơi sinh hoạt của cộng đồng. Vào đến trong Nam thì được chia ra nhiều nhà có chức năng khác nhau: Nhà võ ca là nơi tụ hội – Nhà để hội họp riêng và cuối cùng là chánh điện với 4 trụ chính (tứ Long) – nơi thiêng liêng nhất để thờ phụng và làm nghi lễ.
Đình, chùa ở miền Nam thường có hình vuông với 4 vạt mái dốc về 4 phía, có thể vì 4 hướng không có sự chênh lệch nhau quá lớn về khí hậu như ở miền Bắc …và 4 hướng đều được rộng mở như để đón người từ 4 phương đến. Nhưng cũng có người nói loại nhà 4 mái này là ảnh hưởng tháp Stupa của Phật giáo.
Nhà dân gian thường được bố trí phóng khoáng hơn không quá câu nệ về hướng và thường bô cục thành cụm nhiều nhà xen lẫn với cây xanh.
Như vậy là thiên nhiên đã giữ vai trò quyết định đến truyền thống của kiến trúc.

2. Kiến trúc do người nước ngoài xây dựng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
2.1. Những kiến trúc do người Pháp xây dựng
– Đầu tiên người Pháp quy hoạch thành phố Sài Gòn hoàn toàn theo kiểu một thành phố Phương Tây và những công trình lớn của họ cũng hoàn toàn là những kiến trúc Châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Điển hình là Dinh Norodom – Dinh Xã Tây, Toà Khâm sứ – Nhà Bưu điện thành phố – Nhà thờ Đức Bà – Nhà hát thành phố, cho đến khách sạn Continental.
Ngay cả Thành Quy của vua Gia Long cũng lấy theo dạng thành luỹ Phương Tây Vauban. Nhưng dần dần người Pháp biết rõ những kiến trúc đó có phần không phù hợp với Việt Nam nói chung và với Sài Gòn nói riêng.
• Điều trước tiên người ta nhận thấy được là ở xứ nhiệt đới này cây cối rất dễ mọc, to lớn, lá tán rộng, nó là một thành phần quan trọng của đô thị nói chung và của kiến trúc công trình nói riêng.
Do vậy họ đã tổ chức cây xanh dọc theo các đường phố, tổ chức những không gian cây xanh lớn tập trung. Nhờ đó nó đã cải thiện rất lớn về cảnh quan đô thị và tạo nên một nét riêng biệt trong bố cục không gian kiến trúc cảnh quan.
Nhà thờ Đức Bà là một công trình rất nhỏ so với các công trình tôn giáo bên chính quốc hay Châu Âu. Nhưng họ đã khéo tạo mối quan hệ giữa nhà thờ với vườn cây, và làm cho nhà thờ nằm trong một không gian vừa bề thế, vừa ấm cũng. Dinh Norodom cũng vậy. Bối cảnh của nó là một không gian cây xanh, nên đã tạo ra được sự hài hoà giữa thiên nhiên với kiến trúc và con người.
Trong các kiến trúc sau này của Pháp xây dựng như các trường Lê Quý Đôn (Chasseloup Laubat), Nguyễn Thị Minh Khai (trường Áo Tím), trường Lê Hồng Phong (Pétrus Ký) cho đến Viện Pasteur, Bệnh viện Nhi Đồng 2 (Đồn Đất) … Không gian cây xanh trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng đốì với kiến trúc – Nếu không có không gian cây xanh thì những kiến trúc như đã nêu ở trên đều trở nên quá tầm thường.
• Điều thứ 2 người Pháp nhận ra là ở Việt Nam mưa to, nắng lớn, mưa giông gió rất mạnh. Cho nên mái nhà và các bộ phận che mưa chắn nắng là rất quan trọng. Từ đó họ đi sâu tìm hiểu các kiến trúc truyền thống của Việt Nam, và các kiến trúc sau này của họ xây dựng được khoác lên mình những bộ mái dày dặn hơn, đầy đặn hơn. Các mái che chắn có độ dốc lớn và cùng vật liệu với mái nhà, những hàng hiên rộng cũng ra đời từ đấy. Ngoài ra họ còn học tập được các kiểu mái chồng để tạo sự đối lưu không khí làm cho ngôi nhà mát mẻ thông thoáng hơn.
Như vậy về nội dung công năng họ vẫn giữ được bố cục mặt bằng tiên tiến của Phương Tây – nhưng về hình thức, về cái vỏ kiến trúc bên ngoài đã có rất nhiều thay đổi, học tập các kiến trúc truyền thống để phù hợp với điều kiện thiên nhiên hơn.
Người khởi xướng cho kiến trúc đó là KTS Hébrard người Pháp – một KTS rất yêu mến và gắn bó với Việt Nam, ông đã để lại khá nhiều công trình như Viễn Đông Bác cổ, trụ sở Bộ Ngoại giao (sở Tài chính)… ở Hà Nội, trường Pétrus Ký … ở Sài Gòn.
Một loạt công trình như thế đã ra đời và người ta thường gọi đó là “trường phái Đông Dương” trong kiến trúc ở nước ta.