Vấn đề bản sắc đối với kiến trúc Sài Gòn – TP.HCM – P3

3, kiến trúc Sài Gòn thời các chế độ cũ
Từ những năm 60 trở lại, với sự viện trợ to lớn của người Mỹ, các thành phố ở phía Nam – nhất là Sài Gòn đã xây dựng khá nhiều kiến trúc mới – Điều đáng nói là hầu hết những kiến trúc này đều do các KTS người Việt thiết kế xây dựng, sống trong cái thế bị nước ngoài xâm chiếm về mặt chính trị và quân sự, các KTS Việt Nam đã có một tinh thần dân tộc rất cao, họ muốn tìm một hướng đi riêng cho Kiến trúc Việt Nam dù ở bâ’t kỳ thể loại công trình nào.
Sự tìm tòi của họ hướng về những triết lý phương Đông, hướng về cách giải quyết tốt hơn, mới lạ hơn trong các giải pháp che mưa che nắng, nhưng đồng thời họ cũng rất mạnh dạn tiếp thu những xu hướng kiến trúc hiện đại trong việc tổ chức hình khối và đường nét. Tiêu biểu cho thời kỳ này là công trình Dinh Độc Lập của KTS Ngô Viết Thụ – triết lý Phương Đông về âm dương ngũ hành, về thuật phong thuỷ đã được nghiên cứu ứng dụng vào kiến trúc hiện đại. Đồng thời cũng cố gắng khai thác những mô tip trang trí của Việt Nam từ hình thức kiến trúc bên ngoài cho đến bên trong. Triết lý Phương Đông đã kết hợp được một cách hài hoà trong tổng thể không gian bao gồm cả kiến trúc công trình và kiến trúc ngoại cảnh – KTS đã tạo nên một cái thế cho công trình tuy không to lớn lắm nhưng rất hoành tráng, bề thế và trang nghiêm. Dĩ nhiên vị trí địa thế công trình đã tạo nên cái thê tốt nhất đó. Có người nói thành công của Dinh Độc Lập 70- 80% là ở vị trí địa điểm – Nói hơi quá một chút nhưng không phải là sai.
Một công trình thứ 2 không nổi tiếng bằng Dinh Độc Lập, nhưng thật ra là một kiến trúc rất thành công trên nhiều mặt. Đó là Thư viện tổng hợp thành phố của KTS Nguyễn Hữu Thiện. Đây là một kiến trúc khá hiện đại (thời bấy giờ). Khối cao (“khối tháp”) nhô lên chắc nịch, khoẻ mạnh với hình khôi và đường nét đơn giản – Cái đơn giản của kiến trúc cao tầng hiện đại – Tương phản lại khối thấp (“khối bệ”) trống thoáng với đường nét và hoa văn trang trí dân tộc nhưng vẫn thấy trong cái cổ có cái kim. Sự tương phản một cách rất âm dương giữa cao và thấp, đặc và rỗng, hiện đại và cổ kính, giữa kiến trúc với không gian cây xanh và hồ nước bên ngoài, giữa sáng và tối… tạo nên một vẻ đẹp rất huyền ảo – chỉ tiếc một điều là không gian xung quanh công trình quá chật hẹp, quá cận đường không có một tầm nhìn thoả đáng – có lẽ vì thế mà người ta không thấy hết cái đẹp của nó.
Các kiến trúc sư Sài Gòn cũng đã xông ngay từ đầu vào lĩnh vực kiến trúc cao tầng hiện đại – Có thể họ là những người đi tiên phong trong cả khu vực Đông Nam Á thời bây giờ. Khách sạn Palace , Caravelle, trụ sở Công ty giấy Cogido, Cao ốc 146 Nguyễn Công Trứ và một loạt các nhà ngân hàng … Các kiến trúc cao tâng đó vẫn có nét riêng của mình, không giống như Châu Âu, Châu Mỹ hay Nhật Bản. “Mặt nạ” và các loại thanh lam che nắng mưa, các ban công với cây xanh … đã làm cho những mảng khối to lớn trở nên nhẹ nhàng thanh thoát hơn.
Tuy mới là bước đầu đi vào lĩnh vực kiến trúc hiện đại với sô” lượng công trình không nhiều nhưng KTS Sài Gòn đã thể hiện sự tìm tòi một hướng đi cho kiến trúc của mình.
Khu nhà ở Thanh Đa cũng là một đóng góp to lớn của kiến trúc Sài Gòn – Vân đề cơ câu các loại hộ, vân đề thông thoáng hình thức, kiến trúc, cho đến bô” cục tổng thể của các khu ở đều có sự tìm tòi nghiên cứu cái mới, sao cho phù hợp với mình hơn – Tiếc rằng lúc bây giờ tình hình xã hội chưa ổn định nên tính xã hội của khu ở chưa được thể hiện rõ nét.
Các công trình tôn giáo ở Sài Gòn tuy không có những sáng tạo đáng kể nhưng dẫu sao đều là những tác phẩm kiến trúc nghiêm túc đóng góp vào bộ mặt kiến trúc chung của đô thị.
Nhìn chung lại kiến trúc Sài Gòn thời chê” độ cũ, dù chịu nhiều ràng buộc và khó khăn, nhưng cái đáng quý là họ không sao chép kiến trúc nước ngoài, mà cô” gắng tìm một hướng đi riêng cho mình. Có thể nói không quá rằng kiến trúc thời kỳ này đã đẩy nền Kiến trúc Việt Nam nói chung tiến lên một bước nhất định.

4. Kiến trúc Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ sau giải phóng 1975
Sau giải phóng là thời kỳ nước ta rơi vào tình thế râ”t khó khăn về kinh tê” đồng thời với những cuộc chiến tranh hạn chê” với Khơ me đỏ ở phía Tây và với Trung Quốc ở phía Bắc. Dân sô” thành phô” giảm do đi kinh tê” mới, do người Hoa di tản … thành phô” gần như không có nhu cầu phát triển.
Nhưng thật ra hậu quả chiến tranh rất nặng nề, hàng vạn người sống trong những khu ổ chuột lụp xụp hay trên kinh rạch. Trẻ em không có trường học, phải học ca 3, ca 4. Bệnh viện không đủ giường, không đủ phương tiện khám chữa bệnh, các cơ sở văn hoá TDTT chỉ tập trung ở trung tâm và gần trung tâm. Nhu cầu về kiến trúc vẫn rất lớn, đặc biệt trên lĩnh vực phúc lợi công cộng xã hội. Dù rất khó khăn nhưng nhà nước ta đã cố gắng đầu tư thêm nhiều trường học, bệnh viện, các công trình Văn hóa TDTT và một số nhà ở.
Công trình lớn nhât thời bấy giờ là nhà hát Hoà Bình Quận 10 và nhà thi đâu TDTT Phan Đình Phùng. Nhà hát Hoà Bình với 3000 chỗ ngồi là công trình lớn và rất phức tạp v’ê kỹ thuật và rất khó về nghệ thuật, so với trình độ của ta lúc bấy giờ là có phần vượt quá tầm mức. Do vậy khi công trình hoàn thành tuy không xảy ra vấn đề gì lớn về kỹ thuật, nhưng về âm thanh chưa tốt, về nghệ thuật không để lại một dấu ấn gì đáng kể. Dẫu sao đây cũng là một cố gắng rất lớn của các kỹ sư và các KTS của chúng ta.
Nhà thi đấu Phan Đình Phùng tuy có quy mô không lớn nhưng vẫn là nhà thi đâu lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ. Giống như nhà hát Hoà Bình, nhà thi đấu Phan Đình Phùng không có sai sót gì về kỹ thuật, nhưng về nghệ thuật kiến trúc vẫn không để lại dấu ấn gì đáng kể.
Điều đáng nói là lý ra với sự cố gắng rất lớn của Nhà nước ta đầu tư cho các công trình đó, thì chúng ta cần phải có những công trình đẹp hơn, xứng đáng hơn. Điều đó chúng ta không làm dược, thật đáng tiếc!.
ơ các quận huyện khác cũng đã xây một sô” công trình phúc lợi nhỏ hơn, không có những thành công gì đáng kể, nhưng nó đã kịp thời phục vụ được rộng rãi hơn góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân.
về nhà ở vào giữa thập niên 80, thành phô” đã bắt đầu bắt tay vào việc xây dựng nhà ở cho nhân dân – khu nhà ổ chuột ở P1 Quận 5 sau khi bị cháy đã lập tức được xây dựng thành các chung cư. Dân nghèo được sống trong chung cư mới, dù còn rất khó khăn nhưng dẫu sao cũng là một bước đổi đời.
Các chung cư ở Pl- Quận 5, sau đó là các chung cư ở khu Lý Văn Phức Quận 1, khu Âu Cơ – Lạc Long Quân Quận 11, khu P1 – Quận 10 và một số khu khác ở Tân Bình … tiếp tục ra đời. Các KTS của chúng ta cũng đã có sự nghiên cứu kết hợp giữa các loại nhà tập thể ở miền Bắc với các chung cư ở miền Nam – chủ yếu là khu Thanh Đa để tìm ra những mẫu chung cư phù hợp nhất.
về kiến trúc đã có ít nhiều thành công trong việc giải quyết các loại hình căn hộ, các vân đề thông thoáng và mỹ quan – Song cũng tồn tại rất nhiều vân đề kỹ thuật, ảnh hưởng đến sử dụng. Ngoài ra về mặt xã hội hoàn toàn chưa có những nghiên cứu tương ứng.
10 năm sau giải phóng không phải là thời kỳ phát triển kiến trúc ở thành phố Hồ Chí Minh, song thực ra ta đã xây dựng không ít, nhất là các cơ sở hạ tầng xã hội. Kiến trúc lúc bây giờ chỉ mới đáp ứng được nhu cầu bức xúc của xã hội, chứ các mặt kỹ thuật, nghệ thuật, tổ chức không gian đô thị vv… đều chưa được đầu tư đầy đủ. Vì vậy thời kỳ này các KTS không có những đóng góp gì đáng kể vào việc tạo nên bản sắc cho kiến trúc thành phô”.