Vấn đề dân tạm cư trên địa bàn thành phố

1. Người nước ngoài sống trên địa bàn thành phố
Ở Singapore có gần 1.000 văn phòng nước ngoài, Hong Kong còn nhiều hơn, Thượng Hải năm 1997 có gần 0,5 triệu người nước ngoài … những con sô” đó đáng để cho chúng ta suy nghĩ về thành phô” Hồ Chí Minh.
Nếu đất nước hội nhập tốt, đâu tư nước ngoài nhiều, nguồn đi lại kinh doanh tiếp thị tăng; thì sô” người ngoại quốc đến làm việc cùng với gia đình của họ sẽ tăng lên rất lớn. Trong đó có không ít người nước ngoài sống tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng làm việc ở các khu vực lân cận. Nếu số văn phòng đại diện có khoảng 4.000-5.000 thì người nước ngoài (kể cả gia đình họ) sẽ có khoảng 50.000-60.000 người.
Việt Nam sẽ là điểm du lịch trong thế kỷ tới; nếu hàng năm có 5-6 triệu khách du lịch -thì 60% là thông qua cửa ngõ thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy hàng ngày thường xuyên có 10.000-
15.0 du khách nước ngoài.
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có khí hậu ôn hoà, tiện nghi tương đối tốt về mọi mặt, nên không loại trừ sẽ có rất nhiều người nước ngoài đến nghỉ ngơi, an dưỡng dài hạn. số lượng này trong tương lai sẽ không nhỏ.
Tính chung lại trong tương lai số người nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh có lẽ sẽ không ít hơn 100.000 người.

2. Khách vãng lai nội địa
Du lịch trong nước ngày càng phát triển, thành phố Hồ Chí Minh cũng là điểm hẹn của du lịch – Nếu hàng năm có 5-6 triệu người đến thành phố Hồ Chí Minh du lịch thì hàng ngày thường xuyên có từ 15.000-20.000 người. Đây cũng là một con số đáng kể.
Ngoài ra thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung những trung tâm y tế lớn nhâ”t ở phía Nam – số người các tỉnh thường xuyên đến khám chữa bệnh cùng với người đi theo chăm sóc cũng là một con sô” không nhỏ.

3. Học sinh – sinh viên tập trung vào các mùa thi và số sinh viên – học sinh tiếp tục học tại các thành phố
Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 30 trường đại học và trường chuyên nghiệp lớn nhỏ, công lập và dân lập – nếu số người dự thi mỗi trường bình quân khoảng 2.500-3.000 người, kèm theo người đi theo chăm sóc, thì cứ đến mùa thi hàng ngày thành phố có khoảng hàng trăm ngàn cư dân tạm thời này, và sau đó 10~15% sẽ được ở lại để học tập – Theo số liệu luyện thi đại học năm 2001 có 2,1 trên lượt thí sinh dự thi – Nếu thành phố Hồ Chí Minh chiếm 40% khối lượng đó, tức có khoảng 800.000 HS-SV và có cả ngàn người gia đình đi theo thì con số đó lên tới trên dưới 1 triệu người. Không chỉ có thời gian thi cử mà cả thời gian ôn tập luyện thi nữa, họ ăn ngủ vào đâu và đi lại như thế nào là cả một chuyện lớn của thành phố.

4. Dân mới nhập cư, người đến thành phố làm ăn kiểu thời vụ
Số lượng dân tạm cư này khá lớn và thường không thể kiểm soát nổi.
Các KCN và các cơ sở sản xuất – kinh doanh, dịch vụ trong và ngoài quốc doanh đều có rất nhiều người chưa có hộ khẩu tạm trú, nhâ’t là các KCN mới hình thành.
Các công ty, tổ hợp xây dựng hầu hết thợ phụ đều là người mới nhập cư hay lao động thời vụ.
Thành phố có trên 1 triệu hộ dân, nếu chỉ 5% hộ dân cần người giúp việc nhà thì con số đó là 50.000 người.
Xích lô, ba gác, Honda ôm, bán vé sô’, bán hàng rong, phục vụ hàng quán, karaoke… ít ra 30% trong số họ là những người tạm cư.
Hàng trăm ngành nghề khác hàng ngày đang cần những nhân công tạm thời và hàng ngàn người đang kiếm sông bằng những nghê lặt vặt – hầu hết đêu là dân tạm cư. Con số này rất đáng kể mặc dù chưa thể thống kê được.
Người nước ngoài, khách vãng lai, dân tạm cư… lao động thời vụ, đối với thành phố Hồ Chí Minh sẽ là một con số rất lớn – Không thể không tính trong cơ câu dân thường xuyên của thành phố. Theo Cục Thông kê thành phố Hồ Chí Minh và một số nhà xã hội học số lượng này có thể từ 10% -12% tổng số nhân khẩu thường trú. (Hiện tại có 528.000 người đăng ký tạm trú, ngoài ra còn rất nhiều trường hợp không đăng ký).
Chính vì vậy đa số mọi người đều cho rằng dân số thành phố Hồ Chí Minh đã vượt qua con số 6 triệu người.
Thành phố’ Hồ Chí Minh là trung tâm giao lưu, là đầu mối kinh doanh đầu tư và du lịch toả ra các vùng lân cận, là trung tâm vui chơi giải trí, mua sắm vì vậy thường xuyên có một lượng khách vãng lai rất lớn. Ngoài ra đây cũng là nơi dễ kiếm sống qua ngày, nên số người ở các địa phương đến lao động thời vụ, khi các địa phương gặp thiên tai… rất thường xuyên và rất đông; đồng thời cũng là nơi tập trung học sinh – sinh viên vào các mùa thi, do vậy số lượng người tạm trú sẽ rất lớn.

5. Nhà ở cho dân tạm cư
Thành phố Hồ Chí Minh thường xuyên có một khối lượng dân tạm cư rất lớn. Theo ước tính của các nhà xã hội học, con số đó khoảng 5-6% dân số thường trú tức là khoảng 250.000 – 300.000 người. Ngoài những người nước ngoài làm ăn và sinh sống tại thành phố, số dân tạm cư thường là những người tỉnh lẻ được tuyển làm công nhân ở các khu công nghiệp mới, là những người làm nghề tự do từ các tỉnh đến để kiếm sống, là sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, học nghề v.v… tất cả đều không có nhà ở và phần lớn chỉ có thể ở trong các loại nhà cho thuê với giá thấp nhất.
Đây là lĩnh vực Nhà nước còn bỏ ngỏ – Các thành phần kinh tế tư nhân chớp lấy thời cơ này xây dựng hàng loạt nhà tạm bợ để cho thuê, nhất là ở các khu vực Quận 7, Quận 8, Tân Bình, Gò Vấp, Thủ Đức, Bình Chánh … Xây dựng hỗn loạn gây mất an ninh trật tự đô thị, lấn chiếm kinh rạch, không đảm bảo điện nước vệ sinh an toàn và tạo cho người tạm cư có một cuộc sống rất cơ cực, nhếch nhác.
25-30 vạn người tạm cư không phải là một con số nhỏ, nhà ở cho họ cũng là một vấn đề lớn của thành phố – Nhất là phải có nhà ở cho người lao động. Nếu Nhà nước không quan tâm đúng mức, thì sẽ làm cho việc quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị gặp rất nhiều khó khăn nhất là các quận ven, quận mới, đồng thời không bảo đảm được trật tự, văn minh, an toàn cho đô thị nói chung, không bảo đảm đời sống cho người lao động trước khi họ có một cuộc sống ổn định.
Nhà nước phải có tổ chức quy hoạch xây dựng và quản lý những khu tạm cư, trên cơ sở giao nhiệm vụ cho một số đơn vị đầu tư kinh doanh nhà thực hiện. Có thể tạm cấp đất đai và xây dựng nhà tạm theo quy hoạch và kế hoạch đã được xác định, đồng thời giao trách nhiệm cho địa phương quản lý dân sự, sắp xếp, tổ chức lại các khu nhà ở cho dân tạm cư hiện nay và tạo điều kiện bảo đảm sinh hoạt hàng ngày cho người lao động.