Vấn đề Văn hóa văn minh Đô thị và ý thức Đô thị

1. Ý THỨC TUÂN THỦ LUẬT LỆ đô thị
Khi đã có luật lệ đỗ thị chặt chẽ và quản lý nhà nước nghiêm minh, thì phân còn lại là thuộc về sự chấp hành luật lệ một cách nghiêm chỉnh của người dân – Dân ở đây bao gồm từng cá nhân người dân cho đến các tổ chức kinh tế xã hội và đặc biệt là các cơ quan nhà nước. Sự tuân thủ luật lệ đô thị là sự hiểu biết và thấm nhuân các luật lệ đô thị để tự giác chap hành với trách nhiệm và nghĩa vụ của người dân. Đồng thời theo đó phải có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan thi hành pháp luật. Mọi sự vi phạm đều theo mức độ nặng nhẹ để xử lý nghiêm minh. Khi sự chấp hành luật lệ đó thành thói quen là lúc người dân thật sự có ý thức đô thị, thật sự sống và làm việc theo đúng các quy luật của đô thị.
Quá trình đô thị hóa của chúng ta là một quá trình chuyển hóa từ nông thôn đến thành thị. Người thành thị đa số cũng mới chuyển hóa từ người nông dân, người sản xuất nhỏ, người ở các tỉnh lẻ di cư đến. Họ chưa có thói quen công nghiệp, thói quen sống ở đô thị với những quy luật rất khắt khe. Do vậy để người dân có được ý thức đô thị phải là cả một quá trình – Quá trình đó trước tiên phụ thuộc vào sự phát triển công nghiệp, phát triển văn minh đô thị và một mặt quan trọng khác là họ phải được thường xuyên giáo dục, hướng dẫn. Đó cũng là trách nhiệm rất lớn, rất quan trọng của chính quyền, của các cơ quan quản lý nhà nước.

2. Ý THỨC CỘNG ĐỒNG
Ý thức cộng đồng vốn là một đức tính tốt đẹp của người Việt Nam. Từ khi sống trong làng xã ở nông thôn người Việt đã biết phát huy ý thức cộng đồng để giúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày và nhất là khi gặp khó khăn hoạn nạn. Người Việt di cư xuống phía Nam. Ý thức cộng đồng càng được phát huy cao hơn và trở thành một trong những đức tính tốt đẹp nhất của người Nam Bộ – Sài Gòn.
Sống trong một thành phố lớn người dân luôn luôn cần đến một ý thức cộng dồng cao. Bởi luật lệ đô thị, quản lý nhà nước đô thị không thể nào bao quát được tất cả các lĩnh vực của đô thị. Bởi các cơ sở vật chất của đô thị dù có hoàn thiện đến đâu chăng nữa cũng không thể đáp ứng được mọi nhu cầu của người dân đô thị. Con người luôn luôn cần sự giúp dỡ, hỗ trự của nhau, nhất là khi gặp khó khăn hiểm nghèo. Ngoài ra V thức cộng đồng còn chính là một nhu cầu tinh thần, nhu cầu tình cảm của người dân đô thị. Sống trong đô thị, thiếu vắng điều đó con người dễ cảm thấy cô đơn hơn bởi cuộc sống đô thị là một cuộc sống của nhiều đơn nguyên riêng lẻ có tính độc lập khá cao và sự giao tiếp giữa họ với nhau thường mang tính máy móc, hữu cơ nhiêu hơn.
Các thành phố chúng ta đang ở trong trạng thái mọi thứ đều chưa hoàn chỉnh nên hơn lúc nào hết cần phải phát huy ý thức cộng đồng cao của mọi người dân đô thị.

3. PHÁT HUY TRUYỀN THốNG VĂN HÓA LỊCH SỬ
Mỗi thành phô” đều mang theo quá trình lịch sử của mình, đều mang trong mình dòng máu Việt 4000 năm. Dòng máu Việt đó hòa quyện với đất trời, với sông nước, với thiên nhiên của từng địa phương, hòa quyện với văn hóa từ các nơi đưa đến để tạo nên những nét rất riêng biệt cho chính mình. Văn minh – hiện đại của một thành phố trong đó đã bao gồm sự tạo cho mình một nét riêng. Nét riêng ấy làm phong phú thêm cho chính mình, phong phú thêm cho cộng đồng đất nước và như vậy cũng có nghĩa là góp phần thêm cho sự văn minh -hiện đại.
Thiên nhiên, con người tạo nên mọi thứ ở mỗi miền đất nước, nó có cái chung của người Việt, của đất Việt nhưng nó cũng có những cái riêng biệt mang đầy tính năng động, sáng tạo, tính nhạy bén và sự hài hòa với muôn vật ở từng địa phương. Giống như cộng đồng người Việt ở đất Nam Bộ rất biết tiếp thu nhanh nhạy mọi tinh hoa của thời đại, của thế giới, nhưng vẫn luôn giữ cho mình một nguyên lý sổng rất cổ xưa nhưng cũng vô cùng hiện đại đó là cuộc sông của con người phải luôn luôn hài hòa với thiên nhiên.
Không hiểu điều đó chúng ta sẽ không thể xây dựng được một thành phô” văn minh – hiện đại mà vẫn đậm đà một bản sắc riêng.

4. BẢO ĐẢM Sự CÔNG BANG XÃ HỘI
Công bằng xã hội là một trong những tiêu chí quan trọng nhất của một thành phố văn minh, hiện đại. Không thể nói một xã hội, một thành phố văn minh, hiện đại mà ở đây tồn tại sự bất công quá lớn, công bằng xã hội, xóa bỏ bất công cũng là lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, của một thành phô xã hội chủ nghĩa.
Để tạo được sự công bằng xã hội, Nhà nước phải có những chính sách đô thị khác nhau đôi với từng thành phần xã hội, đồng thời với những giải pháp kiến trúc – quy hoạch tương ứng, trong vân đề nhà ở và cũng như trong vân đề hạ tầng xã hội, dịch vụ xã hội. Thành phố cực lớn đầy rẫy những vân đề phức tạp trong đó sự phân hóa giàu nghèo ngày càng mạnh. Nếu không có những giải pháp thích hợp sẽ râ”t khó tạo được sự công bằng xã hội.

5. NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA TRI THỨC CHO NGƯỜI DÂN ĐÔ THỊ
Nhân loại luôn luôn tiến lên phía trước ngày càng nhanh chóng, khoa học kỹ thuật của thời đại phát triển như vũ bão và thành phố chính là nơi thể hiện sớm nhất, tập trung nhất mọi sự tiến bộ. Người dân thành phô” phải có đủ trình độ văn hóa trí thức để tiếp thu mọi thành tựu tiến bộ của nhân loại nhằm phát triển thành phố mình và để có thể tiếp tục sáng tạo phát triển nhanh mạnh thành phố mình trong một thế giới ngày càng có tính cạnh tranh cao.
Có trình độ văn hóa tri thức cao, sẽ sống văn minh công bằng hơn và có thể tạo cho mình có thêm những nét đặc thù riêng đầy sáng tạo.
Có thể coi văn hóa văn minh là nền tảng cho một thành phố. Bởi thành phố là do con người điều khiển, vận hành và tiếp tục sáng tạo không ngừng. Con người suy cho cùng là yếu tô’ quan trọng nhất của đô thị. Con người có văn hóa văn minh, có tri thức thì mới có được thành phố văn minh – hiện đại – văn hoá tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc. Tuy nhiên văn minh – hiện đại – văn hoá tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc của một đô thị có mốì quan hệ hữu cơ với kiến trúc – quy hoạch đô thị và luật lệ đô thị – 3 mặt đó có tác động thúc đẩy lẫn nhau để ngày càng tiến dần đến hoàn thiện hơn.