Văn hoá đi lại

Ở các nước văn minh hiện đại vấn đề đi lại đã trở thành quy luật khá rõ ràng. Từ nhà đến các trạm xe công cộng là đi bộ rồi sau đó đi xe công cộng đến nơi làm việc; Ngoài đi xe công cộng người ta còn dùng phương tiện xe 4 bánh cá nhân đi thẳng từ nhà ở hoặc khu nhà ở (từ gara chung) đến nơi làm việc. Mô hình các nước tiên tiến hơn: đi xe phương tiện cá nhân tập kết ở bãi của bến xe công cộng (thường là tàu điện bánh sắt), đi xe công cộng đến những ga cô” định, rồi đi bộ hoặc đi bằng các phương tiện không ô nhiễm đến thẳng nơi làm việc. Mô hình này áp dụng cho những thành phố lớn có nhiều thành phô” vệ tinh.
Còn ở ta từ trong nhà ra hẻm hoặc ra thẳng đường lớn là phóng thẳng một mạch đến chỗ làm việc bằng phương tiện cá nhân hai bánh, với phương thức đi lại như vậy khiến cho người dân thành phô” không còn khái niệm đi bộ nữa. Với những chiếc xe máy người ta có thể tạt vào bất kỳ cửa hàng nào trên dãy phô” để mua sắm, người ta có thể ngồi trên xe dạng hai chân xuống đất, đằng trước đứa bé đằng sau đứa lớn để ghé lại mua mớ rau, con cá, miếng thịt, ngay bên chợ vỉa hè, chợ lề đường. Tập quán đi bộ không còn nữa. Những người già cả, tàn tật buộc phải đi bộ thì đó là nỗi lo khủng khiếp của họ trên đường phô” nhâ”t là khi muôn băng qua đường.
“Xe hai bánh + nhà phô” + chợ vỉa hè” đó dường như là một trong những phương thức đi lại và sinh hoạt chủ yếu của người dân đô thị hiện nay. Từ đó hình thành nên một lối sống, một nếp văn hoá chủ yếu được tạo dựng nên bằng xe hai bánh tốc độ chậm và nhà phô”.
Phải nói rõ là “xe hai bánh tốc độ chậm ” vì tốc độ chậm khác xa với tốc độ nhanh. Khi đã ngồi trên xe hai bánh với tốc độ chậm thì mọi hành vi không phù hợp với một thành phố lớn đều có thể xảy ra, chứ chưa nói đến một thành phô” văn minh hiện đại.
– Đàn ông ở trần mặc quần đùi, đàn bà mặc đồ ngủ diễu hành trên đường phố.
– Xe chở 2-3 người thậm chí 4 người trên một xe, các người ngồi sau thòng chân xuống đất.
– Xe máy chở một người ngồi sau vác theo một cây sắt, thanh nhôm rất dài hoặc một tấm kính rất lớn, và với mây chiếc dây thun người đi xe máy có thể chở 5-7 két bia, 2-3 cái bình ga…
– Xe máy, xe đạp đi hàng đôi hàng ba hoặc xe máy thò chân qua đẩy chiếc xe đạp hoặc xe ba gác.
– Xe máy phóng thẳng từ trong nhà, trong hẻm, trên vỉa hè ra ngoài đường bất chấp xe cộ nườm nượp qua lại.
Với tốc độ 25-30 km/giờ thì mũ bảo hiểm là thứ không cần thiết lắm. Người đi bộ, đi xe đạp bị xe máy đâm phải mà chết và người đi xe máy phóng ẩu đâm vào ô tô mà chết. Trong những trường hợp này mũ bảo hiểm bảo hộ cho ai đây?
Xe máy rú ga rồ máy vang động cả phố phường và rất nhiêu người bỏ bộ phận giảm thanh đi cho máy “khoẻ ” hơn.
– …v.v…
Có thể nói thời đại này là ” thời đại văn minh của xe hai bánh tốc độ chậm ” đồng bộ với ” thời đại văn minh nhà phố” và cùng với vỉa hè, chợ tự phát… tạo nên một nếp sống đô thị không lành mạnh nếu không nói là thiếu hẳn tính văn hoá.
Nhà phố là cái chưa thể bỏ ngay đưực bởi liên quan đến nguồn sông của đa số người dân thành phố nhưng chắc chắn nó sẽ giảm bớt dần cùng với sự tiến lên công nghiệp hoá hiện đại hoá của thành phố.
Xe hai bánh tốc độ chậm cũng không thể bỏ ngay được bởi nó là phương tiện đi lại của hơn 80% cư dân thành phố và nó còn là một phần tài sản quý giá của họ. Nhưng ở thành phố nhất là thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội không thể cứ tiếp tục bán xe máy, quảng cáo khuyến mãi xe máy, bán trả góp xe máy. Cái đó chỉ có lợi cho nhà kinh doanh còn rất bất lợi cho đô thị không chỉ riêng về mặt giao thông. Còn nhiều xe máy thì xe công cộng còn chưa phát huy được hiệu quả. Và quan trọng hơn như đã nêu ở trên chính xe hai bánh tốc độ chậm chủ yếu là xe máy đã tạo ra một lối sông đô thị rất không văn minh, rất kém văn hoá. Nó xoá bỏ những tập quán tốt đẹp của người dân như thói quen đi bộ, sự tôn trọng lẫn nhau, sự giữ gìn yên tĩnh, bình an cho khu ở, cho đô thị – ngưực lại nó tạo ra thói quen tuỳ tiện ích kỷ thậm chí là lười nhác (như rất ngại đi bộ) nếu chỉ nhìn thấy những cái lợi trước mắt, những cái thuận tiện nhất thời thì chúng ta đã vô tình cản trở sự tiến lên văn minh hiện đại của một thành phố, một nếp sống văn hoá đáng quý của dân tộc.
Đi lại vốn là chuyện bình thường trong đời sống đô thị, nhưng đi lại còn là hiện tượng xã hội, hiện tượng văn hoá. Nó thể hiện tính trật tự kỷ cương, tính tổ chức và cả tính nhân văn của một xã hội. Đường sá ở nước ta vốn đã chật hẹp và quá tải, càng chật hẹp càng quá tải hơn bởi người ta tranh chen nhau mà di, không ai chịu nhường ai một bước. Thử quan sát một trường hợp kẹt xe ở một chỗ tránh tàu : Nếu luồng người 1/2 đường bên này không chen lấn sang 1/2 đường bên kia thì chắc chắn sẽ không có chuyện 2 luồng giao thông đốỉ đầu nhau và đều kẹt cứng tại chỗ. Hàng năm trên đường phố có hàng ngàn vụ tai nạn giao thông, không thể đổ thừa hết cho đường sá, mà phải kết tội trước tiên cho sự thiếu tôn trọng luật lệ đi đường, sự bất cẩn và sự đi lại rất thiếu văn hoá của con người.
Xây dựng thêm các tuyến đường mới, mở rộng mặt đường, phân luồng phân tuyến hợp lý và tăng thêm các phương tiện giao thông công cộng là chuyện tất yếu của thành phố, nhưng xây dựng một nếp đi lại văn minh có văn hoá lại là điều cần thiết hơn, bức xúc hơn và có thể thực hiện sớm hơn, không cần đầu tư quá tốn kém và mất nhiều thời gian – Có ý thức và có văn hoá hơn trong đi lại chính là sự giảm tải rất to lớn cho giao thông đô thị.
Nay mai mức sống chung của xã hội được nâng cao hơn, trong số hàng triệu chiếc xe gắn máy hiện nay ở các thành phố lớn chỉ cần 10% số đó có thể sử dụng xe 4 bánh thì giao thông đô thị phải chịu một áp lực lớn hơn nữa. Không thể chỉ bằng cách mở rộng thêm tuyến hoặc nâng cấp các cơ sở hạ tầng giao thông đô thị vì nó sẽ không bao giờ theo kịp với tốc độ phát triển của các phương tiện giao thông – Do vậy trong bất kỳ hoàn cảnh nào, vấn đề luật lệ giao thông phải được đặt lên hàng đầu và đồng bộ với nó là việc tạo lập nên một cách đi lại văn minh hơn, có văn hoá hơn. Trong những thành phố lớn văn hoá đi lại là một trong những vấn đề hàng đầu mà toàn xã hội phải quan tâm đến.